Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn với nỗi buồn sương khói của mùa thu

Tôi sẽ không bao giờ quên lần gặp gỡ với cố thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn (1944-2015) tại Phan Thiết trước khi ông mất. Nhà thơ cứ xưng mình là tiểu đệ và gọi tôi là đại huynh cho dù chưa hề biết nhau. Ông vồn vã dẫn tôi và nhà thơ La Văn Tuân (Hội VHNT BìnhThuận) vào nhà. Tôi chợt nhớ tới những câu thơ của ông: "Mỗi ngày chữa bệnh bằng ly rượu/ Tối nằm đánh vật với cơn mơ".

Mai sau dù có bao giờ

Chúng tôi chưa kịp hàn huyên thì vợ nhà thơ bước ra với nét mặt lo lắng. Bà sợ chúng tôi rủ nhà thơ đi uống rượu. Đó là cái tật không chừa được của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Bởi lẽ 18 tuổi nhà thơ bị bắt quân dịch (quân đội Việt Nam Cộng hòa) với tâm trạng khổ đau. Ngay những câu thơ đầu tiên ông đã tỏ thái độ: "Đời bắt kẻ làm thơ như ta đi làm lính/ Bắt lê la mang một chiếc mu rùa/ Nên tâm hồn ta là một cánh đồng úng thủy/ Và nỗi buồn như nước những đêm mưa". Vợ ông kể chính vì thế rượu là món giải sầu làm ông bại hoại sức khỏe. Đến nay người như xác ve. Bà mời chúng tôi uống nước rồi lui vào nhà trong. Lúc này nhà thơ vỗ tay như được giải thoát khỏi sự bám sát của vợ. Trên bàn làm việc của nhà thơ đầy những hình họa và sơ đồ kinh dịch, bát quái. Nhà thơ nói đây là công trình "Kỳ kinh bát mạch" mà ông đang theo đuổi để tu luyện thiền và dưỡng sức. Đặc biệt nhà thơ lại có tài châm cứu nên nhiều người đã tìm đến chữa bệnh.

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn với nỗi buồn sương khói của mùa thu -0
Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn.

Khi bập vào chuyện thơ ca, chúng tôi trầm mình trong cảm xúc cùng những thi phẩm độc đáo của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Giọng thơ trầm khàn ấy vẫn sang sảng như ngày nào. Những câu thơ trong bài "Cười lên đi tiếng khóc bi hùng" luôn ẩn chứa tâm trạng dằn vặt: "Trong thành phố này ta là người phản chiến/ Ngày qua ngày ta chỉ thích đi câu/ Râu tóc mọc dài như bày cỏ loạn/ Sống thật âm thầm ai hiểu ta đâu". Hoặc đôi khi sự phẫn nộ dâng tràn: "Ngày hôm nay ta muốn chặt đi bàn tay trái/ Để được làm người theo ý riêng ta/ Ngày hôm nay ta muốn chọc mù con mắt phải/ Ngày hôm nay ta muốn bỏ đi xa". Sự rạn vỡ trong tâm hồn nhà thơ mỗi ngày một tan nát theo tiếng đạn pháo gầm vang. Những câu thơ gầm rú hoang mang: "Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt/ Xin giã từ đời vũ khí huy chương/ Xin trở về như một kẻ hoàn lương/ Xin vứt hết, xin bắt đầu lại hết" (“Tiệc tẩy trần của người sống sót”).

Và rượu chính là sự cứu rỗi trút mọi nỗi ám ảnh trong chiến trận. Ông lim dim mắt đọc chậm rãi từng câu cho chúng tôi nghe cùng với nỗi sầu vô định: "Mùa này gió núi mưa bưng/ Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan/ Mùa này gió bão mưa ngàn/ Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà" (“Một tiếng đồng hồ trước khi lên đường hành quân”). Ông cũng như đồng đội đều chán nản chỉ biết trút nỗi âu lo vào rượu và bất cần đời. Nhà thơ đã la lớn thật sảng khoái khi muốn trả nợ đời: "Mai ta đụng trận ta còn sống/ Về ghé Sông Mao phá phách chơi/ Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm/ Vung tiền mua vội một ngày vui". (“Mật khu Lê Hồng Phong”). Hoặc tâm trạng bi phẫn không lối thoát giữa cái sống và cái chết nhà thơ đã bộc bạch tâm sự: "Ngày vui đời lính vô cùng ngắn/ Mặt trời thoát đó ở phương tây/ Nếu ta lỡ chết vì say rượu/ Linh hồn chắc sẽ biến mây bay". Rồi trong lúc rệu rã nhất trong tâm hồn nhà thơ đã vẽ chân dung mình một cách lạnh lùng: "Thời đó là thời ta chấp hết/ Lửng lơ hoài trên chiếc đu quay/ Đời mình như ly rượu cạn/ Hắt toẹt đời đi chẳng nhíu mày" (“Tha lỗi cho tôi”). Phải nói đó là những bài thơ dữ dội trong lòng thi sĩ. Tính phản kháng mãnh liệt cho dù đầy bi kịch trong cuộc đời người lính được thể hiện qua những câu thơ mang hình xác chết: "Nhà thương điên nếu còn chỗ trống/ Xin chiếc giường cho xác tàn phai" (“Căn bệnh thời chiến”).

Tình yêu cuộc sống

Số lượng tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn không nhiều nếu không nói là ít ỏi. Tuy nhiên chỉ với tập thơ "Chiến tranh Việt Nam và tôi" xuất bản lần đầu năm 1972 (NXB Đồng Dao-Sài Gòn) cái tên Nguyễn Bắc Sơn đã nổi lên như một hiện tượng thi ca. Một phong cách thơ mới lạ đậm chất thời đại với khẩu khí nóng bỏng, ngang tàng. Mãi tới 23 năm sau ông mới ra tập thơ thứ hai: "Ở đời như một nhà thơ Đông phương" (NXB Đồng Nai-1995). Tuy nhiên tập thơ này vẫn in lại những bài thơ hay nhất trong "Chiến tranh Việt Nam và tôi" nên số lượng thơ không nhiều. Và cũng phải 24 năm sau, một số bạn bè ông cùng gia đình cho in tuyển tập "Nguyễn Bắc Sơn-Tác phẩm và dư luận" (NXB Hội Nhà văn-2019). 

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn với nỗi buồn sương khói của mùa thu -0
Bìa tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi” - Tác giả Nguyễn Bắc Sơn.

Giai đoạn thơ chói sáng nhất của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn tập trung từ thập niên 60 tới thập niên 80. Nhà thơ La Văn Tuân nói nhiều bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn bị thất lạc trong bạn bè và kể cả những người ông không quen biết. Mỗi khi nổi cơn hứng lên làm thơ là tặng bạn khi uống rượu. Không ít lần ông đã đem thơ đi đổi rượu và đi lang bạt khắp phố phường. Vừa đi vừa đọc thơ, ông có gì trong tay là đem cho trẻ con hay bạn nghèo ngồi trên hè phố. Nhà thơ đi như người mộng du trên biển vắng. Ông thường đọc to những câu thơ: "Đôi lúc nghĩ trời sinh một mình ta là đủ/ Vì đám đông quấy bẩn nước hồ đời/ Nhưng nghĩ lại trời sinh thêm bè bạn/ Để choàng vai ấm áp cuộc rong chơi" (“Mai sau dù có bao giờ”).

Nhiều người trong thành phố Phan Thiết vẫn còn nhớ khi ở tuổi thiếu niên nhà thơ đã từng cắt cổ tay tự tử trong bãi tha ma. Hoặc ít nhất ông đã đôi lần liều chết nhảy từ trên lầu cao xuống đất. Khi được cứu và tra hỏi, ông thản nhiên nói không hiểu vì sao như vậy. Căn bệnh mộng du thời trẻ cũng là một nét bay bổng và gây rúng động trong thơ và rượu sau này của Nguyễn Bắc Sơn. Ông say mê thơ từ nhỏ, đọc nhiều sách và rất giỏi tiếng Anh. Khi bị ép đi lính ông được làm thông ngôn cho sĩ quan Mỹ. Nhưng thấy ông là người có tư tưởng đối nghịch nên họ đã chuyển ông về làm lính địa phương. Từ đây ông đi nhiều nơi và đọc thơ kích động bạn bè buông súng. Rượu là cái cớ để trút sự giận hờn và kết nối bạn bè. Nhạc điệu trong thơ Nguyễn Bắc Sơn cuồn cuộn cảm xúc và tràn đầy năng lượng. Giọng thơ ngang tàng cũng bắt nguồn từ đây.

Tuy nhiên, ẩn nấp phía sau tư chất phá phách ấy là tình yêu cuộc sống của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Khi đụng chạm đến bạn bè và quê hương, thơ ông lại dịu dàng và nồng nàn biết bao. Có lần ông lên Pleiku tìm bạn qua những đèo dốc trong lòng đầy ắp sương mù nhưng vẫn gọi vang: "Phố núi kia ơi, phố có con đường/ Lên xuống dốc không tìm ra bạn hữu/ Không có bạn làm sao tôi uống rượu/ Tôi làm sao sống nổi một ngày đây" (“Hoa quỳ vàng lạnh Pleiku”). Rồi lại những lần hành quân xa nỗi nhớ nhà trào dâng, ông viết: "Nhảy tõm xuống suối giỡn trăng khuya/ Hát khúc vọng tình khúc nhớ quê/ Quê nhà xa tít và xa tắp/ Non nước cháy hương chẳng chịu về" (“Tháng chạp sầu đời bên núi lạnh”). Hoặc đâu đó trong lúc bình tâm ông thường mơ: "Ta thích ngồi câu bên bờ sông/ Để cho tâm trí được phiêu bồng/ Cá chẳng đớp mồi càng thích thú/ Miễn là câu được đám mây bông" (“Đi câu”).

Tình thơ lãng tử

Sự táo bạo ngông nghênh trong thơ Nguyễn Bắc Sơn luôn gây ấn tượng bất ngờ với bạn đọc. Với thơ tình cũng vậy, Nguyễn Bắc Sơn rất khác người và dị biệt về cách thể hiện. Có lúc nhà thơ nói với người yêu rằng: "Vì đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên ta bảo mình thôi hãy quên em/ Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên suốt đời ta nhớ nhớ, quên quên" (“Mai sau dù có bao giờ”). Nhưng thể hiện tình cảm đến chết vì tình thì không ai đanh nọc như ông: "Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt/ Nhưng vì sao ta lại yêu em/ Ôi mắt em nhìn như là bẫy chuột/ Ta quàng xiên nên đó sa chân" (“Trên đường tới nhà Xuân Hồng”).

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn với nỗi buồn sương khói của mùa thu -0
Bút tích nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn.

Xuân Hồng là tên vợ nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Bà đã đồng hành và chăm sóc ông suốt nửa thế kỷ không một chút ưu phiền. Người đàn bà xinh đẹp hiền thục này đã hiện lên trong thơ ông với hình ảnh: "Ta về với nhau vợ chồng không đám cưới/ Khi em thành sương phụ áo màu đen/ Anh bán đi chồng sách quý nuôi em/ Cuộc tình hai ta sao buồn quá đỗi" (“Nhị Hồng”). Trong khi đó ông luôn tự thân ta thán: "Ta sống ở đời như một kể nhàn du/ Trôi qua tháng, trôi qua ngày/ Trôi trên cuộc đời huyễn mộng/ Trôi từ chiếc nôi ra đến nấm mồ" (“Chân dung tự họa”). Những lúc ấy bà Xuân Hồng chỉ nhẹ nhàng ôm lấy mái đầu bạc phơ và bồng bềnh như mây bay của chồng. Bà đã ứa nước mắt và "Chợt thấy lòng mình bát ngát/ Nỗi buồn sương khói của mùa thu".

Vương Tâm

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.