Nhà thơ Lê Anh Xuân: Như nắng chở phù sa

Ngày 24-5-1968, nhà thơ Lê Anh Xuân hy sinh tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong đợt 2 chiến dịch Mậu Thân. Nửa thế kỷ đã trôi qua với bao nhiêu vui buồn người Việt, nhưng cuộc đời vỏn vẹn 28 năm của nhà thơ Lê Anh Xuân vẫn lấp lánh trong những sáng tác dạt dào cảm hứng sử thi!

Giáo sư Ca Văn Thỉnh có nhiều người con nổi tiếng như Ca Lê Thuần, Ca Lê Thắng, Ca Lê Hồng... Riêng người con Ca Lê Hiến lấy bút danh Lê Anh Xuân khi theo đuổi sự nghiệp cầm bút. Sinh ra trong gia đình cách mạng, Lê Anh Xuân vào chiến khu từ nhỏ, sau đó được đưa ra Bắc học hành.

Tốt nghiệp khoa Sử - ĐH Tổng hợp Hà Nội, Lê Anh Xuân được cử đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài, nhưng chàng thi sĩ quê gốc Bến Tre quyết định trở lại miền Nam chiến đấu cùng đồng bào. Hành trình ấy được Lê Anh Xuân viết tỉ mỉ trong nhật ký. Bắt đầu từ ngày 22-12-1964 lên đường vượt Trường Sơn “5 giờ chiều đi bộ ra ga Phú Thọ”.

Giai đoạn đầu làm thơ, Lê Anh Xuân vẫn dùng tên thật Ca Lê Hiến. Bài thơ Nhớ mưa quê hương đánh dấu sự xuất hiện của ông trên thi đàn vào năm 1960: “Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm/ Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong.../ Cơn mưa nhỏ của quê hương ta đã sống/ Nay vỗ lòng ta rung động cả trăm sông”.

Lúc ấy, Lê Anh Xuân 20 tuổi, cảm hứng sử thi nhen nhóm và định dạng như mạch thở xuyên suốt sự nghiệp thơ ông: “Mưa đổ ào như thác dồn trăm lối/ Giấc mơ xưa có chớp giật, sấm gầm/ Trang sử nhỏ nhà trường bỗng hóa mưa dông/ Nghe như tiếng của Cha Ông dựng nước...”.

Lê Anh Xuân ở chiến khu năm 1965.
Lê Anh Xuân ở chiến khu năm 1965.

Cơn mưa nhỏ kỷ niệm cứ lớn dần thành cơn mưa lớn ý chí. Con đường trở lại miền Nam cũng là con đường mở ra tâm hồn thi ca của Lê Anh Xuân: “Bóng dài ngả dọc đường dây/ Đoàn quân đi giữa trời mây chập chùng/ Này đồi, này suối, này rừng/ Khi mưa ướt áo, lúc bừng nắng lên/ Có đêm lặn lội không đèn/ Bước cao bước thấp mưa đêm mịt mùng/ Có đêm đuốc đỏ sáng rừng/ Như hoa bừng nở đón mừng ta đi”.

Trong nhật ký của mình, Lê Anh Xuân cũng không che giấu những cực nhọc, những cam go mà mình phải chịu đựng khi vượt Trường Sơn. Ngày 14-1-1965, Lê Anh Xuân viết: “Đi đường dốc quá. Đi qua dốc “Tân binh”, khóc. Ngủ ở bờ sông Bạc”. 

Ngày 17-1-1965, Lê Anh Xuân viết: “Ngủ võng. Sương xuống lạnh quá. Sáng đi mệt”. Ngày 28-1-1965, Lê Anh Xuân viết: “Đi xa quá. Mệt, cáu. Hoang mang. Ăn có 5 lạng gạo, đói”.

Những trang nhật ký Lê Anh Xuân để lại, không chỉ giúp công chúng hiểu được những niềm riêng của ông, mà còn hé lộ công việc sáng tác của ông. Bài thơ dài nhất của Lê Anh Xuân là Trường ca Nguyễn Văn Trỗi được ra đời như thế nào, thể hiện khá chi tiết trong nhật ký. 

Khởi bút từ “Ngày 18-5-1965, làm trường ca về anh Trỗi”, mãi một năm rưỡi sau vẫn thao thức “Ngày 17-11-1965, cố gắng cho đến cuối 12 hoàn thành lần 1 trường ca anh Trỗi”.

Và nhà thơ Lê Anh Xuân đã thực hiện đúng kế hoạch “Ngày 28-12-1966, bắt đầu sửa tập thơ Nguyễn Văn Trỗi. Cố gắng chép giao lại để đánh máy, sợ mất bản thảo” và kiên trì tiếp theo “Ngày 31-12-1966. Cuối năm rồi. Đêm thức khuya, chép cho xong tập thơ Nguyễn Văn Trỗi. Ngày mai đi dân công. Không biết đi bao lâu...”.

Nhật ký Lê Anh Xuân cũng nói rõ người giúp đỡ hoàn thành tác phẩm này “Ngày 6-1-1967. Chuẩn bị về cơ quan. Có cái gì như cay đắng. Về gặp lại anh Ái, mừng quá. Anh Ái sang góp ý tập thơ của Hiến”. Cuối cùng cũng đến lúc yên tâm giới thiệu tác phẩm “Ngày 23-5-1967. Gửi tập Trường ca Nguyễn Văn Trỗi ra Hà Nội”.

Nhân vật “anh Ái” góp ý cho tập thơ của Lê Anh Xuân, chính là nhà văn Anh Đức - Bùi Đức Ái. Bút danh Lê Anh Xuân cũng có liên quan mật thiết với nhà văn Anh Đức. Chữ “Anh” lấy theo Anh Đức, còn chữ “Xuân” lấy theo Xuân Lan - em gái của Anh Đức. Nhà thơ Lê Anh Xuân dành cho Xuân Lan một tình yêu thánh thiện và tôn thờ.

Chuyện hò hẹn thề nguyện của họ đã được Lê Anh Xuân bộc bạch trong nhật ký “Ngày 22-12-1966. Tròn hai năm H bắt đầu rời Hà Nội và hơn ba năm rồi H xa XL kể từ hôm đưa XL ở ga Hàng Cỏ. Biết bao thử thách đã trải qua... Nghe tin Hòn đất của anh Ái đã in 35.000 cuốn. Mừng cho anh Ái, anh vợ của mình, mừng cho XL...”. 

Có lẽ không chú thích thì ai cũng dễ dàng đoán được, H là viết tắt tên thật Hiến của Lê Anh Xuân, còn XL là viết tắt tên Xuân Lan.

Bởi sự gắn bó ấy, nhà văn Anh Đức đã có can dự vào Trường ca Nguyễn Văn Trỗi.

Trong bài ghi chép Nhớ Lê Anh Xuân, nhà văn Anh Đức kể: “Cái tạng người thư sinh của Hiến bị sốt rét tấn công liên tục. Ở chung nhà với Hiến, tôi luôn để ý coi cơn sốt ngày hôm ấy có đến với Hiến không. Trong nhiều buổi chiều tà, khi cánh rừng bằng lăng trút dần ánh nắng, cũng thường là khi cơn sốt của Hiến hạ dần. Đó cũng là lúc tôi bớt lo. Tối đến, Hiến lại ngồi vào bàn làm thơ. Dạo ấy Hiến đang viết Trường ca Nguyễn Văn Trỗi, dài gần hai ngàn câu. Sau khi nghe Hiến đọc cả tập, tôi bàn với Hiến: Anh không rành về thơ, nhưng theo anh, đối mặt với trường ca, em phải thận trọng. Tập này của em có mặt mạnh, nhưng hơi dàn trải. Một bài thơ rời thì dễ quán xuyến, chứ vài ngàn câu rất dễ bị hớ. Với lại em chú ý, thơ mà hiền quá, xuôi quá cũng không được, nó cần biến tấu, vận động, xốc xáo...”.

Rút tỉa từ gợi ý tinh tế của nhà văn Anh Đức, Trường ca Nguyễn Văn Trỗi đã được Lê Anh Xuân chỉnh sửa lại gọn gàng hơn, để hôm nay độc giả vẫn còn nghe vang vọng những lời tha thiết trầm bổng: “Có nơi đâu đẹp tuyệt vời/ Như sông, như núi, như người Việt Nam/ Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang/ Cà Mau cuối đất mỡ màng phù sa/ Trường Sơn chí lớn ông cha/ Cửu Long lòng mẹ bao la sóng trào/ Mặt trời ánh sáng tự hào/ Dáng đi cũng lấp lánh màu tự do/ Bốn ngàn năm dựng cơ đồ/ Vạn năm từ thuở ấu thơ loài người/ Ôi Việt Nam! Việt Nam ơi!/ Việt Nam, ta gọi tên Người thiết tha”.

Cảm hứng sử thi trong thơ Lê Anh Xuân, không chỉ lan tỏa trong Trường ca Nguyễn Văn Trỗi, mà thể hiện ngay trong những bài thơ đơn lẻ, như viết về những hàng dừa ở quê hương Bến Tre: “Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi/ Mà lá tươi xanh mãi đến giờ/ Tôi nghe gió ngàn xưa đang gọi/ Xào xạc lá dừa hay tiếng gươm khua/ Ôi có phải nhà thơ Đồ Chiểu/ Từng ngâm thơ dưới rặng dừa này/ Tôi tưởng thấy nghĩa quân đuổi giặc/ Vừa qua đây còn lầy lội đường dây” hoặc viết về trận Ấp Bắc oanh liệt: “Và đâu đây mùi bùn đất Việt Nam/ Tất cả đã trở thành bất tử/ Từng ngọn gió đã thổi vào lịch sử/ Tôi tưởng nơi đây tan nát còn đâu/ Lạ lùng thay lúa vẫn tươi màu/ Lúa trùng điệp vây quanh đồn giặc/ Lúa bất khuất như người bất khuất/ Phù sa đã lấp những hố bom/ Và cả những vết thương của tâm hồn”.

Kết tụ rõ nét cảm hứng sử thi trong thơ Lê Anh Xuân phải nhắc đến bài thơ Dáng đứng Việt Nam. Ban đầu bài thơ được đặt tên là Anh giải phóng quân, lấy nguyên mẫu từ một chiến sĩ tấn công phi trường Tân Sơn Nhất trong đợt 1 chiến dịch Mậu Thân.

Đây là bài thơ cuối cùng Lê Anh Xuân gửi lại cho Ban Văn nghệ Trung ương Cục miền Nam, trước khi tiến vào vùng phụ cận Sài Gòn và hy sinh. Nhà văn Anh Đức đã đổi tên bài thơ thành Dáng đứng Việt Nam và lúc bài thơ được in báo thì Lê Anh Xuân không còn nữa, chỉ còn một huyền thoại cho thế hệ sau nâng niu: “Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ/ Anh chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ/ Anh là chiến sĩ giải phóng quân/ Tên anh đã thành tên đất nước/ Ôi anh giải phóng quân! Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.

Sự nghiệp thơ của Lê Anh Xuân chỉ gói gọn 10 năm, ngay trong giai đoạn bom đạn dữ dội, nên tính nghệ thuật nhiều tác phẩm vẫn chưa kịp chưng cất thật hàm súc. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ lưỡng những vần điệu Lê Anh Xuân để lại, thì cũng rất bất ngờ khi bắt gặp những câu thơ đậm phẩm chất tài hoa của một người đầy mơ mộng “anh là con sông chảy trước nhà em”.

Ví dụ, bài thơ ngắn không đặt tên được viết trong nhật ký ngày 5-1-1965 có hai câu: “Ai tắm bên khe đá/ Tiếng suối chảy triền miên”, không thấy mặt người sinh động nhưng thấy hồn người lãng mạn. Hoặc trong bài thơ Trở lại quê nội có hai câu cực kỳ ấn tượng: “Em ơi sao tóc em thơm vậy/ Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng” làm nổi bật lên vẻ đẹp độc đáo của phụ nữ Nam bộ!

Với khát vọng “dáng đi cũng lấp lánh màu tự do”, nhà thơ Lê Anh Xuân mang lý tưởng phụng sự kháng chiến, phụng sự dân tộc đi vào thơ Việt. Tinh thần cống hiến và tinh thần sáng tạo theo chân Lê Anh Xuân qua mỗi bước đường, gặp điều gì ông cũng muốn viết thành thơ.

Chẳng hạn, nhật ký ngày 1-1-1967, Lê Anh Xuân tâm sự: “Xuống B13, gặp cô gái nhỏ cũng đi nữa. Đề tài của một bài thơ. Tuổi 16, An Phú Đông, con một, cha chết chỉ còn mẹ. Thoáng qua trong giấc mơ, hiện thân của sự trong trắng, ngây thơ. Ôi những thiên thần của tuổi nhỏ, tuổi hoa niên. Khuôn mặt trong sạch, dáng thon dịu. Đi vào cách mạng với sức trẻ phơi phới. Có thể viết nhan đề bài thơ là “Thơ về tuổi nhỏ”, hoặc “Trăng rằm” hay “Tuổi mười sáu”!”.

Vì vậy, không khó hiểu khi một trái tim nồng nàn như Lê Anh Xuân có thể viết được những câu đắm đuối ngay trong những ngày khói lửa giằng co sinh tử: “Đàn bò mộng chiều về ngang suối vắng/ Suối bỗng vàng như chở nắng phù sa”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.