Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi: Một tấm gương tự học

Nhìn hình ảnh nhà thơ Đỗ Trọng Khơi ngồi trên xe lăn, tôi thường liên tưởng đến nhà vật lý lý thuyết, nhà vũ trụ học Stephen William Hawking. Có điều, nhà khoa học người Anh được học ở nhiều đại học danh tiếng nhất của đất nước ông, còn nhà thơ của chúng ta mới chỉ học đến lớp 3 trường làng. Nhưng, chẳng hề chi.

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều tấm gương tự học thành tài như Tổng thống thứ 16 của Mỹ Abraham Lincoln, nhà văn M. Gorky, thi sĩ Tản Đà, nhà thơ Phùng Quán…

Các sinh viên khóa đầu tiên của Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1956 kể rằng, buổi đầu lên lớp, các thầy Đinh Gia Khánh, Trương Tửu... đều chỉ cho các bạn trẻ quan điểm “Đại học là tự học”. Đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu kể, năm 1976 khi ông thi vào Đại học Điện ảnh Bắc Kinh, các thầy cũng nói: “Mười năm Cách mạng văn hóa, chúng tôi bị đày đi nông thôn, không nhớ gì kiến thức điện ảnh, các anh hãy tự học”. 

Nhưng, điều kiện tự học của họ khác xa Đỗ Trọng Khơi. Ít ra, họ đều ở hoàn cảnh “hậu chiến” và còn nguyên vẹn chân tay. Còn cậu bé Đỗ Trọng Khơi lại ở trong hoàn cảnh chiến tranh và chưa qua tuổi nhi đồng. Đặt mình vào vị trí của Đỗ Trọng Khơi, ta mới cảm nhận được sức mạnh tinh thần khổng lồ không kém gì sức vươn thể chất của Thánh Gióng.

Khi Khơi lên 6 tuổi, bố anh nhập ngũ. Những năm 60- 70 trong thế kỷ XX của đất nước, những người đàn ông ở các làng quê miền Bắc, tuổi từ 17 đến 37, đều nằm trong danh sách sẵn sàng ra trận. Một năm sau, bố anh hy sinh tại chiến trường Quảng Ngãi. 

Cậu bé Khơi vẫn được cùng bạn cắp sách đến trường. Nhưng, một bên chân của cậu cứ sưng dần. Lúc đầu là mấy ngón, sau lên cổ chân, bắp chân, rồi cả hai chân. Hai tay cũng vậy. Cứ co quắp lại dần. Mới 11 tuổi, Khơi không thể đi được. Gia đình chạy chữa nhiều nơi nhưng đều không kết quả. 

Ở một làng quê thời chiến, có bao nhiêu việc quan trọng. Số phận của một con người nhỏ bé, đành phó mặc cho Trời. Dù ông bà và mẹ cùng những người thân hết lòng chăm sóc nhưng con người nhỏ bé ấy cứ phải nằm một chỗ. Lại nằm nghiêng. Hai chân dần dính chặt vào nhau. Đầu và cổ hầu như không cử động. Các khớp xương cứng lại. Những động tác thông thường cũng làm cậu đau đớn. Ở cái tuổi đang tung bay “như con chim chích/ nhảy trên đường vàng” (Tố Hữu) mà phải nằm bất động, hỏi còn bi kịch nào đau đớn hơn?

Người ta thường nói về “phúc” hay “họa”. Trong cái này có cái kia. Nhưng, trí óc non nớt của cậu bé hơn mười tuổi đầu ấy đâu có nghĩ gì về những khái niệm trừu tượng đó. Và cậu chỉ biết, mình còn sống. Mình đang sống. 

Cậu sinh năm Canh Tý, mệnh “Lương thượng chi thử” - nghĩa là “Chuột trên xà”. Một khi chuột đã ở trên xà thì chỉ có nước chạy. Nhưng, cậu bé Khơi tuy nằm một chỗ, tâm trí cậu chạy. Tâm trí chạy đi đâu? Chạy tìm những cuốn sách. Những bộ tiểu thuyết như Tam Quốc chí, Đông Chu liệt quốc... mở ra cho cậu những thế giới vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tuy không thể đến trường nhưng những cuốn sách đã mang đến cho cậu “những cánh cửa học vấn”.

Rồi sách trong nhà cũng đến lúc cạn. Tâm hồn và trí óc khát khao dinh dưỡng. Có người họ hàng đến thăm, nói cho cậu biết, ở chợ huyện Hưng Hà, quê cậu, có hiệu sách. Phải công nhận một điều, những năm kháng chiến chống Mỹ, công tác văn hóa cơ sở ở các tỉnh miền Bắc làm rất tốt. Hầu như xã nào, huyện nào cũng đều có thư viện. Mỗi huyện đều có một vài “Hiệu sách nhân dân”. Và các Nhà xuất bản, do ít giấy, đều chọn in những cuốn sách có chất lượng. Cậu bé Khơi bàn với mẹ, trích một phần tiền tuất của người cha liệt sĩ để mua sách. Và Trời Phật không phụ lòng người ham học.

Có một chị bán sách, chị Hòa, cảm phục và quý mến tình yêu sách của cậu bé Khơi, đã bí mật cho cậu mượn những cuốn sách mà cửa hàng chưa bán. Điều kiện đặt ra là phải giữ cho sách mới tinh nguyên. Những năm đó, sách giáo khoa còn có bài khuyên học trò giữ gìn sách vở. Nhiều người còn nhớ bài thuộc lòng, có câu: “Tay này bẩn quá/ Làm sách lọ lem/ Rửa tay sạch đã/ Mới giở sách xem”. Trong bom đạn và đói nghèo, tình làng nghĩa xóm của đồng quê Việt Nam vẫn có những dòng suối nguồn trong trẻo nuôi dưỡng những tâm hồn đầy khát vọng.

Và cậu bé Khơi đã đọc sách liên tục trong suốt mười năm như thế. Kiến thức của cậu chủ yếu có từ việc tự học. Học từ sách. Cậu đọc mọi cuốn. Từ sách văn học đến lịch sử, từ sách tiểu sử đến sách khoa học, địa lý... Không chỉ đọc một cách thuần túy, cậu còn học được cách viết, cách nói giản dị và rõ ràng. Sách giúp cậu suy nghĩ độc lập, giúp cậu thử nghiệm và tìm tòi một cách tự tin. Sách giúp cậu thoải mái trong ăn nói. Và đặc biệt, sách giúp cậu khám phá bản thân.

Sách tạo cho cậu cơ hội quý giá chứng minh bản thân mình. Và sách cũng giúp cậu trân trọng bản thân mình. Nhưng, cậu đọc không chỉ để mà đọc. Với trí tuệ năng động và tâm hồn nhạy cảm, đặc biệt là nhu cầu được tâm sự, nhu cầu muốn kể chuyện đã khiến cậu bé Đỗ Trọng Khơi cầm bút viết lên những dòng thơ văn đầu tiên trong đời. Những trang viết này được chàng thanh niên đóng thành tập. Đó là những dòng cảm xúc tinh khiết, những lời tâm sự chân thành, những suy nghĩ trong sáng về con người, thời gian và cuộc sống của một con người không ai nghĩ là nằm một chỗ.

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi: Những phút giây đời thường
Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi: Những phút giây đời thường

Một con người tự học luôn có cơ hội “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” (Chế Lan Viên). Hay nói như cổ nhân “Hữu xạ tự nhiên hương”. Trước hết, anh cần phải có chất “xạ” trong người. Đó là tinh chất của riêng anh. Và khi gặp gió lành, chất “xạ” đó sẽ đủ hương bay đi, làm thơm không gian. Tập thơ văn chép tay của Đỗ Trọng Khơi đang “lang thang” trong làng quê, bỗng một ngày đẹp trời, rơi vào tay của một nhóm sinh viên Đại học Y Thái Bình về quê Khơi thực tập. Họ chuyền tay nhau đọc say mê. Và họ càng kinh ngạc khi diện kiến chàng thi nhân nằm còng queo trên giường tre.

Đặc biệt, trong số này có chàng sinh viên - bác sĩ tương lai Hoàng Năng Trọng - một lương y không chỉ giúp bệnh nhân và còn giúp họ thăng hoa trong cuộc sống. Chính vị bác sĩ này làm cầu nối đưa những bài thơ đầu tay của Đỗ Trọng Khơi lên tạp chí Văn nghệ Thái Bình. Và cũng chính bác sĩ Trọng đưa thơ Đỗ Trọng Khơi ra mắt các “nhà thơ Trung ương” như Nguyễn Bùi Vợi, Bế Kiến Quốc... để thơ anh vang trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam và Báo Văn nghệ. Biết ơn người bạn bác sĩ có tấm lòng Bồ Tát, những bài thơ của anh, lúc đầu ký tên khai sinh “Đỗ Xuân Khơi” và “Đỗ Tuấn Khơi” thì nay chính thức mang tên tác giả “Đỗ Trọng Khơi”.

Khi thơ văn của anh đã ra khỏi làng quê thì nhà thơ cũng muốn tạm biệt “góc sân” để đến với những “khoảng trời” cao rộng. Một lần, được lên thị xã Thái Bình dự đại hội văn học nghệ thuật, không khí sáng tạo văn học cùng các đồng nghiệp ở nơi hội tụ văn chương tỉnh nhà đã khiến Đỗ Trọng Khơi khát khao muốn ở lại nơi này. 

May sao, dịp ấy, nhà văn Bút Ngữ, người sáng lập Hội Văn nghệ Thái Bình, lúc ấy trả lại ngôi nhà được tỉnh ủy cấp, nhiều đồng nghiệp khuyên Đỗ Trọng Khơi xin mua lại. Anh quyết định từ biệt làng quê dù mẹ và họ hàng can ngăn. Nhưng, người tuổi Tý, một khi “đã nói là làm”. Có chút tiền tuất của cha mà anh tiết kiệm được, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè, anh cũng xoay đủ tiền mua căn nhà ở ngoại ô thị xã (lúc đó chưa lên thành phố). Anh thấy mình cần phải làm chủ cuộc đời của mình. 

Thiên hướng đã định hình. Công việc đã xác định. Cuộc di cư này đã chứng minh quyết định của anh hoàn toàn đúng và sáng suốt. Và sau này, anh còn di cư lần nữa. Mỗi lần chuyển nhà, cuộc sống của anh lại biến đổi theo chiều hướng đi lên. Ngôi nhà anh ở càng về sau càng đẹp. Trời Phật chỉ đãi người lương thiện.

Sách đã cho anh tri thức. Người có tri thức luôn là người có sức mạnh nội tâm, sức mạnh tinh thần. Sức mạnh này giúp cho chủ nhân khám phá những vùng đất khó khai thác. Trường hợp Đỗ Trọng Khơi thông hiểu Kinh Dịch làm tôi hết sức ngạc nhiên. 

Có lần, gặp chuyện không may, tôi nói với anh. Anh giảng giải căn nguyên và khuyên tôi thích nghi, chấp nhận. Tôi ngạc nhiên: “Sao anh nói chuẩn xác thế?”. Anh chỉ cười khiêm tốn: “Mình cảm thấy thế!”. Lần khác, mẹ tôi đi viện. Nói chuyện với anh. Anh nhắn tin nên chuẩn bị cái này, cái nọ... Sau mọi việc đúng y chang. Anh quả có tài xem Kinh Dịch. Một cuốn sách rất khó đọc. Những bậc anh tài thông kim bác cổ như các cụ Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê... mới dám dịch. Và mỗi người, căn cứ vào thời buổi, tâm thế của mình, đưa ra cách diễn giải. 

Tôi biết nhiều nhà nghiên cứu ở Viện Hán - Nôm, dù học Trung Quốc về, đều thấy rất khó đọc cuốn này.  Làm sao một người tự học như Đỗ Trọng Khơi lại thông thạo? Anh kể, một lần đi viện, đang chờ khám bệnh, có một ông đi qua, thấy anh đang ngồi buồn, bỗng đưa anh cuốn Kinh Dịch. “Cho ông đấy. Tôi đọc, chẳng hiểu gì!”. Anh nghiền ngẫm và từng ngày tìm hiểu...

Lại nói chuyện bệnh tật. Nhờ bác sĩ Hoàng Năng Trọng và Tiến sĩ Lê Đức Tố cùng nhiều bác sĩ khác ở Bệnh viện Thái Bình, Bệnh viện Việt Đức làm phẫu thuật, qua bao khó khăn, mới giúp tách được một chân của anh khỏi dính vào cơ thể. Còn một chân kia, anh bảo: “Trời mổ cho mình đấy!”. 

Tôi ngạc nhiên. Anh kể: “Dạo Thái Bình đón hài cốt đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, tôi cũng liên hệ với nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng nhờ tìm hài cốt bố tôi. Khi đến nhà văn hóa thị xã, người đông lắm, không nói chuyện gì được. Cô Hằng hẹn tôi ra ngoài thành phố trước, ở nghĩa trang, nơi sẽ đặt mộ đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Tôi ngồi trên cái xe ga, phóng đi. Bỗng “rầm” một cái, chiếc xe bay lên trời, còn tôi rơi xuống đất. Đau điếng. Nhưng bỗng tôi cảm thấy, cái chân của mình rời ra khỏi phần dính vào cơ thể. Nó cử động được. Dù đang đau đớn nhưng tôi cảm thấy hết sức vui mừng. Cái chân bên kia, do các bác sĩ mổ cho tôi. Còn cái chân bên này, tôi cảm thấy, hình như Trời mổ cho tôi. Cũng có thể bố tôi nhờ Trời giúp!”.

Khi hiểu được Kinh Dịch cũng là lúc Đỗ Trọng Khơi lập được lá số tử vi cho mình. Và lá số cho biết, anh sẽ có một gia đình đàng hoàng. Cơ duyên đến với anh cũng nhờ sách. Có một cô gái làm thủ thư, mãi tận Bạc Liêu, tên là Đỗ Thu Oanh, đọc, tìm hiểu rồi bén duyên với nhà thơ. Và cây tình yêu của họ đã đơm hoa kết trái hạnh phúc. Hai cậu con trai khôi ngô là Đỗ Lập Sơn và Đỗ Lập Thành là hai “kiệt tác” của vợ chồng anh. Người xưa nói, không có ai tốt nghiệp trường học gia đình. Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi cùng vợ hằng ngày vẫn chuyên cần  tự học trong trường học làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, làm ông, làm bà...

Đoàn Tuấn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.