Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân: Trái tim chân thành, tấm lòng độ lượng

Mùa mưa những năm 1980-1981, rừng Anlung Viêng, Đông - Bắc Campuchia, tôi bị sốt rét, nằm trên võng trong hầm ngập nước, đồng đội Lê Minh Quốc cầm cho tôi cuốn Văn nghệ quân đội. “Đọc đi. Có bài “Con tem quân đội” hay lắm!”.

Quốc vừa đi gùi thực phẩm ở trung đoàn về, ghé vào, cho tôi quà quý. Tôi mở, đọc ngay: “Anh về từ chiến trường xa/ Con tem quân đội làm quà tặng em/ Tay em năm ngón dẫu mềm/ Vẫn e chưa đủ dịu êm khi cầm...”. Thơ ai mà tự nhiên như nhiên thế? Đọc tiếp: “Miền Nam không có mùa đông/ Vẫn em se lạnh sắc hồng trong tay/ Em rằng chỉ thoáng gió lay/ Màu tem lẩn giữa màu mây đồng bằng...”. Tác giả là người Nam bộ. “Màu mây đồng bằng” gợi lên không gian bao la thoáng đãng và trong sáng cao xanh. Chẳng bù cho nơi này, bầu trời thấp phủ xuống rừng lá thấp. Mái hầm sũng nước trùm lên một người đang sốt.

Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân: Trái tim chân thành, tấm lòng độ lượng -0
Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân.

Dạo ấy, hai đứa chúng tôi cùng đơn vị, ngày đi tuần, đêm đi phục. Cả hai đều có ước mơ chung. Làm được những bài thơ phản ánh đúng cuộc sống và chiến đấu của lính tráng. Lê Minh Quốc đang ấp ủ bài thơ dài “Đất nước và Người lính”. Còn tôi, đang làm công việc chôn cất tử sĩ, cũng bắt đầu viết “Đất bên ngoài Tổ quốc”. Toàn chủ đề lớ. Sao có người làm được thơ về cái vật bé xíu? “Con tem quân đội”, chúng tôi có đầy trong ba lô. Đã bao lần lấy tem dán lên bì thư, chúng tôi không ai nghĩ đến chuyện làm thơ về nó. Vậy mà có người viết. Viết rất hay. Sao lại là món quà? Sao phải cầm một cách dịu êm? Sao lại sợ gió lay? Và sắc hồng sao lẩn vào màu mây? Mây đồng bằng có khác gì mây rừng núi?

Khi khỏi sốt rét, tôi khoác súng sang đại đội Quốc. Trò chuyện về thơ. Thơ Quốc viết đầy trên cánh võng. Dưới ánh trăng mờ đêm mùa mưa, hai thằng nằm trên hai con thuyền, tâm tưởng trôi về thơ. Bài thơ ấy nói với chúng tôi rằng, thơ không phải là việc viết về cái gì. Quan trọng nhất, cần phải có hồn thơ trong mọi vật. Hồn thơ ấy tỏa ra từ người làm thơ. Về bài thơ ấn tượng này, tác giả  tâm sự: “Con tem quân đội lưu dấu những rung cảm của thời thiếu nữ trong lành, khi ấy, những năm sau 1975, thay vì đi dạy sau khi tốt nghiệp sư phạm, tôi bước đầu làm quen với văn học, viết và yêu...”.  Đơn giản “viết và yêu” thôi sao? Song, tôi nghĩ, đây là thời gian rất hạnh phúc của chị. Còn gì sung sướng hơn, chỉ việc viết và yêu? Yêu và viết?

Những rung cảm đầu đời, như chị nó “của thời thiếu nữ trong lành” đã khơi trong chị nguồn cảm xúc như thác đổ. Thiên thời - địa lợi - nhân hòa, cả tâm hồn là thơ. Cả đất trời là thơ. Và người mình yêu cũng là cả một vùng sáng đầy thơ. Chị  nhìn đâu cũng thấy thơ. Như bài “Áo người yêu”. Áo quần lính tráng phơi đầy rừng. Còn đậm mùi máu, mùi mồ hôi, mùi thuốc súng, mùi khói mìn... Chúng tôi đâu thấy gì? Nhưng, chị cảm nhận, một sự cảm nhận rất riêng: “Dáng áo cũng trầm như dáng anh/ Về phép chưa quen nắng phố mình/ Để em nhìn chiếc sào phơi mãi/ Chỉ sợ nắng làm áo phai xanh/ Sợi vải nào thương anh giữa đêm?/ Sợi vải nào vương hơi thở mềm?/ Sợi vải nào nhớ vùng ngực ấm?/ Có sợi nào tương tư áo em?”. Rất cổ điển song cũng rất hiện đại về nội sung và hình thức. Không thể phân tích được cổ điển thế nào, hiện đại ở đâu, bởi chúng nhuần nhuyễn, quấn quyện vào nhau.

Người Việt Nam thường sống nặng về tình cảm. Nhiều câu thơ, bài hát đã giúp bao con người vượt qua những thời điểm khó khăn trong cuộc sống. Song, tác giả của những tác phẩm đó thường ít được biết đến giá trị tinh thần của những đứa con tuyệt vời của mình. Tôi có người bạn cũ. Anh tâm sự, nhờ được đọc một bài thơ của tác giả Đinh Thị Thu Vân mà anh như sống lại. Anh đã cứu được cuộc hôn nhân bên bờ vực của mình. Đã cứu được gia đình mình và cứu được chính mình. Anh có tật ghen bóng ghen gió. Một hôm, tình cờ đọc được bài thơ cũ của vợ tặng người yêu thuở sinh viên, anh đã nổi giận. Anh đay nghiến vợ. Và quyết định ly thân.

Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân: Trái tim chân thành, tấm lòng độ lượng -0
Từ trái qua, các nhà thơ Lê Minh Quốc, Đinh Thị Thu Vân, Trương Nam Hương và Cao Xuân Sơn.

Trong bước đường lang thang, ở một nhà ga xe lửa, anh mua tờ báo. Tình cờ, trong báo có in “Bài thơ lục bát của anh”. Tưởng chỉ đọc để giết thời gian: “Thơ anh một thuở gieo vần/ Tặng cho ai những tháng năm học trò?/ Cô gái ấy có làm thơ?/ Có yêu anh giống bây giờ em yêu?”. Anh giật mình. Sao giống tình trạng của mình đến thế? Đọc tiếp: “Bây giờ chép lại trao em/ Bài thơ lục bát còn nguyên ngọt ngào”. Anh chàng trong thơ liều hơn vợ mình. Song, giống nhau ở sự cảm nhận hương vị tình đầu “còn nguyên ngọt ngào”.  Nhưng, đến câu sau: “Biết anh chẳng giấu gì nhau/ Nên em mãi ngại ngần câu trách hờn”, anh bỗng giật mình. Chả nhẽ mình là đàn ông, tình cảm lại hẹp hòi hơn người con gái, tác giả của bài thơ sao? Mồ hôi vã ra. Tay run. Anh đọc tiếp: “Chỉ đành trách những con đường/ Khéo bay trăm lá me vương tóc người/ Cho tay anh vội bồi hồi/ Rối trên những sời tóc dài, mềm đi/ Trách ngày sao để đêm về/ Cho bao nỗi nhớ bộn bề vây anh”. Sự đồng cảm đây rồi. Nhưng, tác giả bài thơ cao thượng hơn mình.

Chuyện thơ tình cũ, đâu phải chuyện riêng anh. Của nhiều người khác, nhiều lứa đôi khác. Quan trọng là cách ứng xử bây giờ. Anh đọc hết và nhìn tên tác giả: Đinh Thị Thu Vân. Anh bảo, nếu tên tác giả là nam, chưa chắc anh sửng sốt. Đằng này, lại là nữ. Cảm thấy ân hận và xấu hổ, anh quyết định mua vé quay về... Khi nghe câu chuyện này, nhà thơ khiêm nhường nói: “Tôi luôn nghĩ thơ tôi chỉ như những dòng nhật ký, viết cho mình, chút riêng tư nhỏ lẻ, nhận được yêu mến là do may mắn, chưa bao giờ tôi thấy nó không bé mọn - nghe mọi người nói về sứ mệnh văn chương, tôi tin nhưng điều này dành cho những tác phẩm lớn, mình không tùy tiện vơ vào”. Nhưng, tục ngữ nói: “Cứu một người, phúc đẳng hà sa”.

Thơ đến với chúng ta từ nhiều nguồn. Có người tìm cảm hứng từ thiên nhiên, từ bên ngoài. Rồi tức cảnh sinh tình. Nhưng, ở Đinh Thị Thu Vân, thơ đến từ bên trong. Từ trái tim lúc nào cùng nồng nàn tình yêu, khát khao bao trùm tình yêu lên người mình thương nhớ. Chị yêu hết lòng, như dân gian nói, đến “khô máu”. “Trái tim đã đập chân thành/ Xin yêu ngày tháng chưa dành cho nhau”. Thơ chị nhiều người nhớ, nhiều người thuộc bởi sự chân thành. Đọc lên, nó chiếm được lòng tin của người đọc ngay. Không cần vòng vo nhiều lời, chị tỏa cảm xúc vào người đọc ngay ở câu đầu, khổ thơ đầu. Khiến người đọc chú ý. Sang những khổ thơ sau, người đọc sẵn sàng, tin yêu đi theo cảm xúc của chị. Cuối cùng, bị thơ chị chinh phục. Bị chinh phục một cách hạnh phúc và vui mừng. Hiếm nhà thơ nữ nào có được diễm phúc này.

Chị cho biết: “Riêng với tôi, thơ là chốn dễ nhận ra thật giả nhất đời, thơ như người, càng giả thì càng đáng chán, mà thật đến ngô nghê cũng khó lay động. Không cần phân định nam hay nữ, cứ thơ đẹp là mình nhận ngay ra thôi”. Cảm ơn chị. Chị đã nói thêm một khái niệm “thơ đẹp”. Đúng như nhà văn Nga A. Trekhov viết, một con người đẹp, ngoài ngoại hình, thời trang, cần tâm hồn, lời nói cũng phải đẹp. Cái đẹp trong thơ Đinh Thị Thu Vân chính lá sự chân thành. Chân thành đến đau đớn. Nhưng, trước tình trạng thơ đang lạm phát, thơ giả tràn lan, chị nhận xét: “Tác hại của điều này là thấy thơ nhiều quá đâm ra mệt, đâm ra thắc mắc sao mọi người thiếu nhạy cảm quá, sao ồn ào đến vậy, đến bao giờ tai hại này có thể giảm hay ngày càng trở thành thảm nạn!”.

Sinh ở miền Tây Nam bộ, vùng đất đồng bằng, mênh mang trời xanh, gió đồng phóng khoáng nên hồn thơ Đinh Thị Thu Vân, tự bên trong, đã mang đậm dấu ấn phong thủy của quê hương, như Nguyễn Du từng viết: “Văn chương nết đất, thông minh tính trời”. Đọc thơ chị, người ta cảm nhận sự ào ạt, nồng nàn khí trời, của đất, của màu xanh thiên nhiên, của sự quặn lòng của những cơn gió phóng đãng. Bài nào cũng vậy. Nhưng, không bài nào giống nhau.

Mỗi bài là một cung bậc cảm xúc khác nhau, những hướng động tâm hồn khác nhau. Chị có thế mạnh của riêng mình, chỉ duy nhất mình mới có. Chị hiểu điều này. Chị không bao giờ vay mượn cảm xúc của ai. Chính trái tim chị cất lên tiếng hát của chị, dù đôi khi là tiếng khóc. Chị hát lên thành giai điệu nhiều nỗi lòng, nhiều xúc cảm của giới nữ mà nhiều người lâu nay chứa chất trong lòng, không thể nói ra. Một tiếng nói mạnh mẽ, khỏe khoắn cất lên giữa vùng đất Nam Bộ bao la. Nhưng, trong thơ chị, người đọc còn cảm nhận một phẩm chất cao quý, đó là sự độ lượng, đó là đức khoan dung. Rất nhiều khổ thơ, bài thơ của chị thấm đẫm tấm lòng của người chị, người mẹ, người tình... đón đứa con lầm lỗi trở về. Phải là người sâu lắng lắm mới rèn luyện cho mình có được đức hạnh này.

Người ta đọc thơ chị, hiểu được chiều sâu tâm hồn của con người vùng đất này. Chị công nhận: “Chắc phải có “phong thổ” chứ nhưng tôi không nhận ra hết được, chỉ đôi khi tự “xét nét”, tôi thấy mình viết không kiểu cách, không hư danh, thêm cái nết tà tà từ từ làng nhàng thì hẳn là Nam bộ phải không?”. Đúng quá rồi. Thơ và người làm thơ cứ làm điệu, theo đuổi hư danh này nọ, không sớm thì muộn, chỉ nhận được sự bẽ bàng mà thôi. Ở chị, lại thêm cái nết “tà tà” nữa, đúng là đặc điểm người miền Tây. Không vội vã. Cái sự phù phiếm giục người ta làm cẩu thả nhều thứ lắm. Nhưng, chị sớm lánh xa điều này. Cứ tà tà. Nhớ chuyện ngày trước, ở chiến trường K, khi nghe tiếng chim rừng “Tác-ta-tác-ta-ta...”, lính tráng miền Bắc thường phiên âm thành: “Bắt con tép kho cà”, còn lính miền Nam thì lại nhại thành: “Dắt bà xã tà tà...”. Một bên ăn. Một bên chơi. Bên nào cũng vui. Nhưng, bên chơi vui nhiều hơn.

Để làm được thơ hay, cần nhều yếu tố. Song, yếu tố quan trọng, yếu tố tự thân, đó là sự vô tư. Thấy gì đẹp là thích. Thấy gì hay là khen. Thơ Đinh Thị Thu Vân hay, rất hay vì ở chị có một phẩm chất rất đáng quý, càng quý hơn đối với người làm văn chương, đó là tính không đố kị. Nhiều người làm thơ mắc chứng bệnh này nhưng không nhận ra tác hại của bệnh. Cứ nuôi dưỡng và nó càng gây nguy hiểm cho con bệnh. Nói về chứng bệnh này, chị viết: “Tôi luôn nghĩ sự đố kị nếu mình phải gặp ở ai đó thì... quá đáng lắm, vì tôi không ảo tưởng, không huyễn hoặc, không bon chen, không rộn ràng, tôi chui trong góc khuất, cơ chi mà hẹp lòng”.

Trái tim thơ sau bao năm sóng gió tình đời, giờ đang đập những nhịp điệu bình thường. Dòng sông băng qua bao thác ghềnh giờ đang xuôi về biển. “Tôi luôn cố gắng sống sao để không phiền toái cho bất kỳ ai, một chút cảm giác không đẹp nơi người khác dành cho mình, tôi cũng bứt rứt. Biết mình quá nhạy cảm, đong đo được sự nhạy cảm nơi mình là một bất hạnh, nên tôi luôn cô gắng ru cho nó ngủ, không dễ dàng chút nào”. Có người hỏi, đến tuổi này, chị giữ cho mình những bài học kinh nghiệm gì ?

Chị trả lời: “Để được bình yên, tôi chọn cách sống im lìm, nó phù hợp với cá tính của tôi, ngay từ thời trẻ, tôi đã không quen với những chộn rộn, chỉ có thể tự tin trong ngôi nhà của mình với đôi người thân quen, khác đi là tôi thấy lạc lõng. Kinh nghiệm là không nên thoát khỏi mình, sẽ dễ dàng lao đao lận đận và cô đơn cùng cực!”. Trong thời buổi cuộc sống vận động với tốc độ như hiện nay, công chúng sau khi đuổi theo những ảo ảnh quay cuồng, sẽ ngày càng nhận ra và tìm đến bến đỗ là bến sông thơ của chị.

Đoàn Tuấn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.