Nhà giáo Nguyễn Văn Huyên: Tin ở ánh sáng

Gần ba thập niên giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục (từ năm 1946 tới năm 1975), di sản quý báu nhất mà Giáo sư Nguyễn Văn Huyên để lại cho hậu thế chính là một nếp sống mẫu mực, luôn lấy chữ “hiếu” làm đầu và mục đích phụng sự người dân làm kim chỉ nam trong mọi hành động.

GS. Nguyễn Văn Huyên sinh năm 1905 (theo giấy tờ, ông sinh năm 1908), là người con thứ ba trong số 7 anh em cùng cha cùng mẹ (ông còn có 2 người anh cùng cha khác mẹ nữa). Cha ông đặt tên cho các con mà người vợ kế sinh ra bằng các chữ: Phúc, Thiện, Huyên, Đường, Hưởng, Phú, Quý (nghĩa là, Phúc Thiện về nhà mẹ thì được hưởng phú quý). Mới khoảng 7-8 tuổi, cậu bé Huyên đã phải mồ côi cha. Dẫu cha ông, cụ Nguyễn Văn Vượng, chỉ là một viên chức nhỏ ở Sở Kho bạc Hà Nội, nhưng đồng lương thời đó cũng tạm đủ chu cấp cho gia đình. Thiếu vắng trụ cột, gia đình ông lâm vào khó khăn. Đấy là giai đoạn mà bà mẹ phải gồng mình lên gánh vác mọi công to việc nhỏ, nuôi dạy các con ăn học.

Phúc đức tại mẫu

GS. Nguyễn Văn Huyên viết về mẹ mình trong bản tự thuật: “Mẹ tôi là Phạm Thị Tý, con một gia đình làm nghề thầy thuốc ở Hà Nội, có anh cả đỗ cử nhân cổ, làm tri huyện. Mẹ góa chồng sớm, cần cù khuya sớm làm ăn, dành dụm cho con đi học. Bản thân mẹ hiếu học, ghét mê tín và luôn cầu tiến; ít nói, không cãi cọ với ai bao giờ, nếp sinh hoạt phong kiến thờ chồng dạy con, chăm sóc mẹ già thay anh...”.

Nhất nghệ tinh,  nhất thân vinh, chỉ bằng nghề may quần áo thôi nhưng do khéo tay và giàu óc sáng tạo nên quần áo do cụ Phạm Thị Tý làm ra luôn được bán chạy. Nhờ thế, cụ đã nuôi được các con mình và cả con riêng của chồng học hành đến nơi đến chốn. Cũng may, gia đình toàn những người con hiếu học, dù phải khá chật vật trong đời sống vật chất nhưng ai nấy đều cố gắng hết sức mình để học. Rồi anh chị lớn giúp các em bé hơn, chu cấp thêm để họ có thể đi du học. Năm 1925, Nguyễn Văn Huyên và người em là Nguyễn Văn Hưởng theo một chuyến tàu hàng sang Pháp và nhập học ở Trường Montpellier.

Phận thấp, tài cao

Trong những năm 20 của thế kỷ trước, lưu học sinh người Việt theo học đại học ở Paris phần nhiều là con cái của các điền chủ Nam Bộ giàu có. Chỉ có một số ít người có gia cảnh chật vật như anh em Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Hưởng.

Thời gian đầu, mùa đông, hai anh em vẫn phải phong phanh chiếc áo gió khoác ngoài, mãi sau, nhờ bà mẹ gửi sang cho mỗi người một áo dài bông thì mới đỡ bị lạnh. Khổ sở vậy nhưng họ vẫn không ngừng dùi mài kinh sử, học hành tấn tới rất nhanh.

Tuy nhiên, tới những năm 30, kinh tế khủng hoảng, gia đình không còn đủ tiền chu cấp, dù là tùng tiệm nhất, cho cả hai anh em. Thế là người em sau khi nhận bằng cử nhân Luật vào năm 1932, nhận được điện báo tin mẹ ốm nên phải về nước. Người anh ở lại tự kiếm sống bằng cách đi giảng ở Trường Ngôn ngữ phương Đông để học tiếp tục.

Và tới ngày 17/2/1934, sau những ngày đêm đằng đẵng sôi kinh nấu sử, Nguyễn Văn Huyên đã trở thành người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công xuất sắc luận án tiến sĩ Văn khoa (bộ môn Sử - Địa) tại Trường đại học Tổng hợp Sorbonne. Ông Vendryes, Chủ tịch Hội đồng giám khảo đã phải thốt lên: “Đây là sự kiện lớn lao đáng ghi nhớ trong lịch sử Trường đại học Sorbonne”.

Chọn nghiệp giáo để giúp người

Công thành danh toại, Nguyễn Văn Huyên nghĩ ngay tới việc trở về Tổ quốc. Tại Paris, ông tâm sự với một người bạn tâm giao, rằng ông sẽ “nhất định không làm quan, chỉ dạy học và nghiên cứu khoa học”. Dòng họ Nguyễn nhà ông từ xưa đã tâm niệm như lời ghi trong gia phả: “Lấy nghiệp giáo để giúp người”.

Về Hà Nội, thoạt đầu Nguyễn Văn Huyên dạy ở Trường Bưởi, nơi tập trung nhiều mầm mống tinh hoa trí tuệ của người Việt nhất. Rồi ông vào làm nhân viên khoa học của Viện Viễn Đông bác cổ, tham gia Hội đồng Nghiên cứu khoa học Đông Dương và bắt đầu xây dựng bộ môn “Lịch sử văn minh Việt Nam” ở Trường đại học Luật Khoa.--PageBreak--

Vừa nghiên cứu khoa học, ông vừa đi giảng ở nhiều nơi. Theo thống kê của bà Nguyễn Kim Nữ Hạnh, trưởng nữ của GS. Nguyễn Văn Huyên, trong tập hồi ký Tiếp bước chân cha (do NXB Thế giới ấn hành năm 2003), chỉ trong 10 năm đầu tiên làm việc ở quê nhà, ông đã có tới hơn 45 công trình nghiên cứu khoa học có giá trị lâu bền. Đến bây giờ đọc lại nhiều điều mà ông đã viết từ hơn nửa thế kỷ trước, chúng ta vẫn thấy thấm thía và phải ngẫm nghĩ. Chẳng hạn, trong cuốn Văn minh Việt Nam xuất bản năm 1944, Nguyễn Văn Huyên đã viết: “Nếu như xưa kia ở Việt Nam có một kỷ luật tinh thần thì lại chưa hề có một nền giáo dục liên tục, một sự phát triển liên tục sự trau dồi  trí tuệ. Người ta đưa quá nhiều vào trí nhớ của trẻ em, điều đó làm thui chột một số năng lực não bộ người Việt, óc suy diễn, rất cần thiết cho nghiên cứu khoa học. Chưa bao giờ được phát triển một cách có hệ thống...”. Nếu đây là những câu trích ra từ một luận văn mới viết ở đầu thế kỷ XXI này, có lẽ  cũng chẳng cần phải hiệu đính gì nhiều!

Năm 1938, Nguyễn Văn Huyên tham gia Hội Truyền bá quốc ngữ, một tổ chức xã hội của những trí thức yêu nước hàng đầu lúc đó (như các cụ Nguyễn Văn Tố, Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Võ Nguyên Giáp...). Từ tình yêu dân tộc, Nguyễn Văn Huyên đã dần dần tiếp cận chân lý cách mạng vô sản. Khi chính quyền mới được thành lập, ông trở thành Tổng giám đốc Vụ Đại học, Bộ Quốc gia giáo dục kiêm Giám đốc Viện Bác cổ. Tháng 11/1946, ông có mặt trong thành phần Chính phủ Liên hiệp quốc dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Khi đó, ông được Bác Hồ cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

Một lòng cùng ánh sáng

“Cách mạng Tháng Tám thắng lợi giải phóng cho dân tộc một cách kỳ diệu. Tôi vô cùng sung sướng, được thấy ánh sáng và tham gia Cách mạng từ đấy...”. Những cảm xúc này có lẽ đã được GS Nguyễn Văn Huyên gìn giữ trong lòng mình đến tận ngày cuối cùng của cuộc đời.

“Nhà nho xưa kia ra làm quan sau khi học nhiều kinh sách chứa đầy trí nhớ, phần lớn chẳng còn nghĩ đến trau dồi trí tuệ nữa. Hoặc là họ cam chịu nhẫn nhục để khỏi bị ai đó ganh tị mà kiếm chuyện lôi thôi. Hoặc là họ sa vào một thứ chơi ngông, đôi khi cũng tinh tế đấy, nhưng dễ làm cạn kiệt đi ở nòi giống cái năng lực phát minh hoặc thậm chí năng lực lập luận khoa học” (Nguyễn Văn Huyên, Văn minh Việt Nam, 1944).  

Có thể nói không quá rằng, ông là một trong những người có công đầu  trong việc xây dựng một nền giáo dục mới của chúng ta. Sinh ra và lớn lên trong chế độ cũ, được tìm hiểu và nghiên cứu tường tận quá khứ, hơn ai hết, ông hiểu rõ những gót chân “Asin” trong tính cách người Việt và phần trách nhiệm của ngành Giáo dục trong việc dung dưỡng những gót chân “Asin” đó.

Suốt đời mình, trên cương vị người đứng đầu ngành Giáo dục của thể chế Dân chủ Cộng hòa, GS. Nguyễn Văn Huyên đã cố gắng hết sức mình để giáo dục góp phần khơi dậy những cái hay trong tính cách người Việt và hạn chế những cái dở. Trong hội nghị chuyên đề quốc tế về “Vai trò sinh viên và các tổ chức sinh viên trong việc phát triển nền giáo dục dân tộc” họp tại Hà Nội tháng 8/1961, ông khẳng định: “Từ một cơ sở giáo dục lạc hậu, nô dịch, què quặt do ngót 100 năm của chế độ thực dân để lại, ngày nay chúng tôi đã xây dựng được nên nền móng rộng rãi và vững chắc của một nền giáo dục thực sự dân tộc, dân chủ và tiến bộ...”.

Cách mạng phải là một quá trình phát triển không ngừng và bất cứ một sự nghiệp lớn lao nào cũng vẫn còn “cửa” để cho những cải tiến, điều chỉnh. Cho tới những ngày cuối cùng trước khi mất (1975), GS. Nguyễn Văn Huyên hẳn vẫn đau đáu nỗi niềm về việc làm sao để ở nước Việt Nam thống nhất, “trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò”, như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng không chỉ một lần tha thiết kêu gọi.

Tổng kết những ý tưởng hay đã là một việc khó, nhưng biến những ý tưởng hay đó thành một thực tế rộng khắp và bền lâu còn khó hơn nhiều. Là một trong những bậc trí giả hàng đầu ở thời đại mình, GS. Nguyễn Văn Huyên đã hiểu ra điều này rõ hơn ai hết. Tuy nhiên, ông luôn giữ trong mình một niềm tin bất di bất dịch vào lẽ phải của cách mạng. Và nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng luôn đánh giá đúng những công lao và đóng góp của ông cho cách mạng và nhân dân. Năm 2000, GS. Nguyễn Văn Huyên đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Tên ông được đặt cho nhiều đường phố và trường học

Các tin khác

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.