GS. Nguyễn Văn Huyên sinh năm 1905 (theo giấy tờ, ông sinh năm 1908), là người con thứ ba trong số 7 anh em cùng cha cùng mẹ (ông còn có 2 người anh cùng cha khác mẹ nữa). Cha ông đặt tên cho các con mà người vợ kế sinh ra bằng các chữ: Phúc, Thiện, Huyên, Đường, Hưởng, Phú, Quý (nghĩa là, Phúc Thiện về nhà mẹ thì được hưởng phú quý). Mới khoảng 7-8 tuổi, cậu bé Huyên đã phải mồ côi cha. Dẫu cha ông, cụ Nguyễn Văn Vượng, chỉ là một viên chức nhỏ ở Sở Kho bạc Hà Nội, nhưng đồng lương thời đó cũng tạm đủ chu cấp cho gia đình. Thiếu vắng trụ cột, gia đình ông lâm vào khó khăn. Đấy là giai đoạn mà bà mẹ phải gồng mình lên gánh vác mọi công to việc nhỏ, nuôi dạy các con ăn học. Phúc đức tại mẫu GS. Nguyễn Văn Huyên viết về mẹ mình trong bản tự thuật: “Mẹ tôi là Phạm Thị Tý, con một gia đình làm nghề thầy thuốc ở Hà Nội, có anh cả đỗ cử nhân cổ, làm tri huyện. Mẹ góa chồng sớm, cần cù khuya sớm làm ăn, dành dụm cho con đi học. Bản thân mẹ hiếu học, ghét mê tín và luôn cầu tiến; ít nói, không cãi cọ với ai bao giờ, nếp sinh hoạt phong kiến thờ chồng dạy con, chăm sóc mẹ già thay anh...”. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, chỉ bằng nghề may quần áo thôi nhưng do khéo tay và giàu óc sáng tạo nên quần áo do cụ Phạm Thị Tý làm ra luôn được bán chạy. Nhờ thế, cụ đã nuôi được các con mình và cả con riêng của chồng học hành đến nơi đến chốn. Cũng may, gia đình toàn những người con hiếu học, dù phải khá chật vật trong đời sống vật chất nhưng ai nấy đều cố gắng hết sức mình để học. Rồi anh chị lớn giúp các em bé hơn, chu cấp thêm để họ có thể đi du học. Năm 1925, Nguyễn Văn Huyên và người em là Nguyễn Văn Hưởng theo một chuyến tàu hàng sang Pháp và nhập học ở Trường Montpellier. Phận thấp, tài cao Trong những năm 20 của thế kỷ trước, lưu học sinh người Việt theo học đại học ở Thời gian đầu, mùa đông, hai anh em vẫn phải phong phanh chiếc áo gió khoác ngoài, mãi sau, nhờ bà mẹ gửi sang cho mỗi người một áo dài bông thì mới đỡ bị lạnh. Khổ sở vậy nhưng họ vẫn không ngừng dùi mài kinh sử, học hành tấn tới rất nhanh. Tuy nhiên, tới những năm 30, kinh tế khủng hoảng, gia đình không còn đủ tiền chu cấp, dù là tùng tiệm nhất, cho cả hai anh em. Thế là người em sau khi nhận bằng cử nhân Luật vào năm 1932, nhận được điện báo tin mẹ ốm nên phải về nước. Người anh ở lại tự kiếm sống bằng cách đi giảng ở Trường Ngôn ngữ phương Đông để học tiếp tục. Và tới ngày 17/2/1934, sau những ngày đêm đằng đẵng sôi kinh nấu sử, Nguyễn Văn Huyên đã trở thành người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công xuất sắc luận án tiến sĩ Văn khoa (bộ môn Sử - Địa) tại Trường đại học Tổng hợp Sorbonne. Ông Vendryes, Chủ tịch Hội đồng giám khảo đã phải thốt lên: “Đây là sự kiện lớn lao đáng ghi nhớ trong lịch sử Trường đại học Sorbonne”. Chọn nghiệp giáo để giúp người Công thành danh toại, Nguyễn Văn Huyên nghĩ ngay tới việc trở về Tổ quốc. Tại Paris, ông tâm sự với một người bạn tâm giao, rằng ông sẽ “nhất định không làm quan, chỉ dạy học và nghiên cứu khoa học”. Dòng họ Nguyễn nhà ông từ xưa đã tâm niệm như lời ghi trong gia phả: “Lấy nghiệp giáo để giúp người”. Về Hà Nội, thoạt đầu Nguyễn Văn Huyên dạy ở Trường Bưởi, nơi tập trung nhiều mầm mống tinh hoa trí tuệ của người Việt nhất. Rồi ông vào làm nhân viên khoa học của Viện Viễn Đông bác cổ, tham gia Hội đồng Nghiên cứu khoa học Đông Dương và bắt đầu xây dựng bộ môn “Lịch sử văn minh Việt Nam” ở Trường đại học Luật Khoa.--PageBreak-- Vừa nghiên cứu khoa học, ông vừa đi giảng ở nhiều nơi. Theo thống kê của bà Nguyễn Kim Nữ Hạnh, trưởng nữ của GS. Nguyễn Văn Huyên, trong tập hồi ký Tiếp bước chân cha (do NXB Thế giới ấn hành năm 2003), chỉ trong 10 năm đầu tiên làm việc ở quê nhà, ông đã có tới hơn 45 công trình nghiên cứu khoa học có giá trị lâu bền. Đến bây giờ đọc lại nhiều điều mà ông đã viết từ hơn nửa thế kỷ trước, chúng ta vẫn thấy thấm thía và phải ngẫm nghĩ. Chẳng hạn, trong cuốn Văn minh Việt Năm 1938, Nguyễn Văn Huyên tham gia Hội Truyền bá quốc ngữ, một tổ chức xã hội của những trí thức yêu nước hàng đầu lúc đó (như các cụ Nguyễn Văn Tố, Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Võ Nguyên Giáp...). Từ tình yêu dân tộc, Nguyễn Văn Huyên đã dần dần tiếp cận chân lý cách mạng vô sản. Khi chính quyền mới được thành lập, ông trở thành Tổng giám đốc Vụ Đại học, Bộ Quốc gia giáo dục kiêm Giám đốc Viện Bác cổ. Tháng 11/1946, ông có mặt trong thành phần Chính phủ Liên hiệp quốc dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Khi đó, ông được Bác Hồ cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Một lòng cùng ánh sáng “Cách mạng Tháng Tám thắng lợi giải phóng cho dân tộc một cách kỳ diệu. Tôi vô cùng sung sướng, được thấy ánh sáng và tham gia Cách mạng từ đấy...”. Những cảm xúc này có lẽ đã được GS Nguyễn Văn Huyên gìn giữ trong lòng mình đến tận ngày cuối cùng của cuộc đời. “Nhà nho xưa kia ra làm quan sau khi học nhiều kinh sách chứa đầy trí nhớ, phần lớn chẳng còn nghĩ đến trau dồi trí tuệ nữa. Hoặc là họ cam chịu nhẫn nhục để khỏi bị ai đó ganh tị mà kiếm chuyện lôi thôi. Hoặc là họ sa vào một thứ chơi ngông, đôi khi cũng tinh tế đấy, nhưng dễ làm cạn kiệt đi ở nòi giống cái năng lực phát minh hoặc thậm chí năng lực lập luận khoa học” (Nguyễn Văn Huyên, Văn minh Việt Nam, 1944). Có thể nói không quá rằng, ông là một trong những người có công đầu trong việc xây dựng một nền giáo dục mới của chúng ta. Sinh ra và lớn lên trong chế độ cũ, được tìm hiểu và nghiên cứu tường tận quá khứ, hơn ai hết, ông hiểu rõ những gót chân “Asin” trong tính cách người Việt và phần trách nhiệm của ngành Giáo dục trong việc dung dưỡng những gót chân “Asin” đó. Suốt đời mình, trên cương vị người đứng đầu ngành Giáo dục của thể chế Dân chủ Cộng hòa, GS. Nguyễn Văn Huyên đã cố gắng hết sức mình để giáo dục góp phần khơi dậy những cái hay trong tính cách người Việt và hạn chế những cái dở. Trong hội nghị chuyên đề quốc tế về “Vai trò sinh viên và các tổ chức sinh viên trong việc phát triển nền giáo dục dân tộc” họp tại Hà Nội tháng 8/1961, ông khẳng định: “Từ một cơ sở giáo dục lạc hậu, nô dịch, què quặt do ngót 100 năm của chế độ thực dân để lại, ngày nay chúng tôi đã xây dựng được nên nền móng rộng rãi và vững chắc của một nền giáo dục thực sự dân tộc, dân chủ và tiến bộ...”. Cách mạng phải là một quá trình phát triển không ngừng và bất cứ một sự nghiệp lớn lao nào cũng vẫn còn “cửa” để cho những cải tiến, điều chỉnh. Cho tới những ngày cuối cùng trước khi mất (1975), GS. Nguyễn Văn Huyên hẳn vẫn đau đáu nỗi niềm về việc làm sao để ở nước Việt Tổng kết những ý tưởng hay đã là một việc khó, nhưng biến những ý tưởng hay đó thành một thực tế rộng khắp và bền lâu còn khó hơn nhiều. Là một trong những bậc trí giả hàng đầu ở thời đại mình, GS. Nguyễn Văn Huyên đã hiểu ra điều này rõ hơn ai hết. Tuy nhiên, ông luôn giữ trong mình một niềm tin bất di bất dịch vào lẽ phải của cách mạng. Và nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng luôn đánh giá đúng những công lao và đóng góp của ông cho cách mạng và nhân dân. Năm 2000, GS. Nguyễn Văn Huyên đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Tên ông được đặt cho nhiều đường phố và trường học