Và lạ thay, tính mực thước của người nghiên cứu không hề cản trở những cảm xúc mạnh mẽ, ào ạt, vượt ra ngoài khuôn thước để cái tên Nguyễn Huy Hoàng trở thành một cái tên quen thuộc, thân thiết với cộng đồng người Việt ở Nga, thân thiết với những người công dân bình thường, những cảnh đời, những số phận vị dập vùi, bươn chải trong cuộc đời lầm than, cay đắng.
Trong lời thưa cùng bạn đọc, Nguyễn Huy Hoàng đã tỉnh táo nhìn nhận thơ của mình như sau: "Bên cạnh những phong cách trữ tình quen thuộc, có phần cố hữu, thơ tôi còn mang tính đa thanh, với chất trào lộng, hài hước - trữ tình; có những bài đã phá rào sang sân chính luận. Điều đó, không phải là do tôi muốn thế. Chủ đề, ý tưởng của bài thơ đã buộc tôi phải chọn cách thể hiện phù hợp, nội dung đã quy định hình thức của nó. Có lẽ hình như đó cũng là một chút sở đoản của tôi".
Hiện nay, có hiện tượng là một số người viết không muốn thơ mình hướng ngoại như trước. Họ muốn bộc lộ những nỗi niềm, những khắc khoải về thân phận cá nhân. Tất nhiên, bây giờ không ai bài xích chuyện này. Nhưng nếu thơ chỉ là chuyện riêng tư, chuyện cá nhân thì làm sao tìm được sự đồng tình, sẻ chia của đông đảo người đọc.
Một người làm thơ trở thành nhà thơ của công chúng chỉ khi nào anh ta buồn vui, gắn bó máu thịt với những người lao động, những thường dân đang tất bật, nhọc nhằn với cuộc mưu sinh. Nguyễn Huy Hoàng là người như vậy. Có nỗi buồn đau riêng thăm thẳm, anh không quên. Nhưng anh còn buồn cái buồn của một công dân trước thế sự: "Đáng buồn là những việc đáng buồn/Mà không ai buồn cả" (Đáng buồn).
Nguyễn Huy Hoàng buồn nỗi buồn nhân tình thế thái, những nỗi buồn thời cuộc xứ người, nhưng trên hết vẫn là nỗi buồn cho những thân phận máu đỏ da vàng, những đồng bào bươn chải kiếm sống nơi xứ lạ quê người, long đong, lênh đênh "Giữa biển đời lũ cuốn, cánh bèo trôi". Đó là một đồng đội cũ "Mang trên lưng cả gánh nặng nợ nần/ Chẳng quen biết, chẳng tiếng tăm, vốn liếng/ Đành gồng người khuân vác suốt quanh năm" (Gặp đồng đội cũ).
Đó là người bạn trôi nổi hai mươi năm trên xứ người chưa về quê vì nghèo cực: "Sống dặt dẹo lần hồi, thay chỗ ở/ Không địa chỉ, cuộc đời như quán trọ" (Trôi dạt). Đó là những cô thợ may xuất khẩu lao động làm việc cực nhọc, sống trong "tường cao rào sắt bốn bề" chẳng khác gì tù ngục: "Tiền công chủ cầm không phát/ Giấy tờ chủ giữ không cho/ Ngột ngạt tối tăm phòng ở/ Hấp hơi như ngủ trong lò" (Lời tự than của một nữ thợ may).
Tuy nhiên, nỗi trăn trở trong trái tim đa cảm của Nguyễn Huy Hoàng không chỉ có thế. Tuy sống ngàn dặm xa, nhưng tấm lòng anh luôn hướng về quê nhà, về nơi quê nghèo đã nuôi dưỡng anh khôn lớn, trưởng thành; đã cho anh một trí tuệ, một tình yêu lớn để anh làm một người lương dân dù "mòn chân đời lưu lạc". Sẽ còn mãi trong anh một Hà Nội, một quê hương Hà Tĩnh, một miền đất Việt thân thiết, những con người lam lũ: "Vẫn ao đầm vẫn giếng khơi/ Quần chằng áo đụp vẫn phơi quanh rào/ Chân chì bước thấp, bước cao" (Về thăm quê bạn).
Quê hương trong hoài niệm của người con xa xứ có chỗ tươi tắn, lung linh: "Xa rồi khói thơm bếp rạ/ Rặng tre đưa võng trong vườn/ Xa rồi cây rơm đầu ngõ/ Đàn gà mới nở vàng ươm (Chùm hoa dâm bụt), nhưng cũng có chỗ không khỏi làm anh đau lòng, nghĩ ngợi: Cây đa trăm tuổi trơ cành/ Sân đình quy hoạch xây thành chợ phiên/ Nhà lầu ngất ngưởng mọc lên/ Bóng che đổ xuống vách phên liếp gầy (Nỗi niềm quê cũ).
Trước những đối lập, tương phản, trước những điều trông thấy như vậy, ngòi bút Nguyễn Huy Hoàng không thể dửng dưng. Cũng không chỉ có u buồn, đồng cảm. Thơ anh trở thành thơ chính luận. Tôi nghĩ đây chính là thể hiện phẩm chất công dân và tính hữu ích của thơ ca. Nguyễn Huy Hoàng lên án những kẻ giả nhân giả nghĩa, những kẻ Cuộc đời thường đều dửng dưng xa lạ/ Hết thảy đều khinh, chỉ quý mỗi tiền (Cảm nhận vũ trường).
Anh xót xa trước thói bạc bẽo của những người con trong cơ chế thị trường: Con cái mải kinh doanh/ Hết đất rồi lại đất/ Hết nhà rồi lại nhà/ Bố mẹ già, bỏ mặc (Tâm sự của một người cùng quê). Anh lên án lối sống "mackeno" của một số người, và cũng lên án luôn những kẻ cơ hội bất chấp liêm sỉ: Lả lơi, một bước, nên bà/ Khom lưng, phút chốc, thế là thành ông (Thâm cung).
Thiết nghĩ, những vần thơ thế sự thấm đẫm tình cảm công dân của Nguyễn Huy Hoàng đã làm cho thơ anh mang hơi thở của cuộc sống hôm nay, đồng hành với thân phận và nỗi niềm của những người lao động trong cơn biến động mạnh mẽ của xã hội thời kinh tế mở cửa.
Đến nay, Nguyễn Huy Hoàng đã cho xuất bản được 7 tập thơ. Điều ấy chứng tỏ nội lực thơ và sức bút dồi dào. Đề tài trong thơ Nguyễn Huy Hoàng khá phong phú và đa dạng. Ngoài những nỗi niềm của phận người xa xứ, tình cảm với nước Nga cưu mang đùm bọc, tình cảm với quê hương đất nước, tình bạn, tình yêu... người đọc có thể thấy nghị lực và nhân cách của một công dân, một con người vịn câu thơ đứng dậy kiêu hãnh làm người.
Biết bao nhiêu là thăng trầm, khó khăn trong cuộc đời một người xa xứ. Lại cộng thêm những niềm đau riêng thăm thẳm khôn nguôi. Nhưng Nguyễn Huy Hoàng không gục ngã. Anh vẫn tâm niệm và trung thành với một phương châm, một triết lý sống: Mỗi chúng ta chỉ có một cuộc đời/ Đừng đánh mất và chớ làm hoen ố (Di huấn của Shukshin).
Giữa bao nhiêu những sự lựa chọn cơ hội thăng tiến của cuộc đời mình, Nguyễn Huy Hoàng đã tình nguyện lựa chọn làm người thợ cày nhẫn nại gieo chữ trên cánh đồng thơ. Có thể có người cho là ngu ngơ, có thể có người cho là gàn dở khi mà Trót mang chuông đến xứ người/Ai nghe? Gõ đến suốt đời chẳng kêu (Đủ rồi).
Nhưng anh vẫn nhận lấy trách nhiệm ấy. Tôi tin, những vần thơ ấy được chắt ra từ một trái tim công dân sẽ làm nên Những trang sách giữ hồn cho tiếng Việt/ Làm phù sa góp xanh lá cây đời - như anh đã viết trong bài "Một con người ra đi"