Ông rất nhiều bạn, nhưng ít bạn thân. Ông thích triết lý "thân thân sơ sơ", không để cái gì vượt quá cái ngưỡng mình không kiểm soát nổi. Ông cho rằng, làm quản lý về xuất bản sách là một cách tôn vinh văn hóa đọc và bạn đọc, vì vậy, ý nghĩ xuyên suốt là làm sao được góp một phần công sức của mình để có những bộ sách lớn để đời...
Tôi gặp ông đúng vào ngày mưa và bị cúp điện. Đường hành lang tầng một lên tầng hai vào phòng ông hun hút toàn sách là sách. Sách kê từng chồng, từng đống, nhiều tới mức tôi phải lách người mới đi vào được. Phòng ông ở cuối tầng hai, tất cả cửa mở tung để lấy ánh sáng. Ông ngồi đó, lúi húi bên ngọn nến và một chồng bản thảo đồ sộ. Thấy tôi vào, ông phân trần: "Mất điện mà mình vẫn phải làm, việc nhiều quá. Biên tập viên thời nay khác trước nhiều lắm. Họ chỉ đọc, thấy đoạn nào sai, chữ nào gợn là đánh dấu lại chuyển qua cho Giám đốc xem, chữa và duyệt luôn. Thế hệ mình là thế hệ thời bao cấp, mỗi năm biên tập chỉ một hai cuốn nên làm cẩn thận lắm, đọc chữa từng trang, từng dòng cẩn trọng, góp ý, bắt lỗi làm cho các tác giả phát hoảng. Còn bây giờ, kinh tế thị trường, bản thảo nhiều, nào là định mức, tự lo lương, lo thưởng, lo học tập, mỗi năm phải làm tới vài ba chục cuốn thì thời gian nào dành cho đọc, cho sửa, cho góp ý nữa".
Nguyễn Cừ sinh ra tại một làng quê nghèo tỉnh Nam Định. Trong kháng chiến ông di cư cùng với bố mẹ vào một thị trấn miền núi Cẩm Thủy - Thanh Hóa. Trước khi học khoa Văn Đại học Tổng hợp, ông là bộ đội thuộc QK3 và ở chiến trường Quảng Trị năm 1972. Năm 1973, học đại học, năm 1978 tốt nghiệp về công tác tại Nhà xuất bản Khoa học xã hội, làm biên tập viên, rồi Phó ban, Trưởng ban. Đến năm 2000 ông chuyển về Nhà xuất bản Văn học làm Phó Giám đốc rồi Giám đốc - Tổng biên tập. Tôi hỏi Nguyễn Cừ, vì sao một người năng động và "thức thời" như ông lại gắn bó với ngành xuất bản lâu đến vậy, ngay cả trong thời kỳ ngành xuất bản gặp nhiều khó khăn và đã có một số vị giám đốc "bỏ của chạy lấy người". Ông cười, nụ cười hiền nhưng không kém phần hóm hỉnh, tinh nhanh: "Xuất bản vừa là nghề vừa là nghiệp của tôi nên tôi ham mê và đắm đuối lắm. Đâu phải nói bỏ mà dễ!".
Ngay từ thời mà khái niệm biên tập viên còn chưa biết làm gì, thì ông và Phan Trọng Thưởng (hiện là PGS.TS, Viện trưởng Viện Văn học) đã được ông Phạm Ngọc Hy - cán bộ biên tập Nhà xuất bản Khoa học xã hội vào Trường Đại học Tổng hợp xin về ngay khi vừa nhận bằng tốt nghiệp. Nghe ông Hy nói làm biên tập viên thích lắm, hay lắm, được tiếp xúc với các nhà văn, nhà thơ, được đứng tên biên tập sau mỗi cuốn sách, được là người đầu tiên đọc bản thảo và hơn cả là được "bắt bẻ", góp ý cùng tác giả sửa chữa nâng cao bản thảo làm cho những cuốn sách đến tay bạn đọc hay hơn, chất lượng hơn. Thế là ông đồng ý. Nhưng rồi hai năm liền chẳng được biên tập cuốn sách nào, vì phải tập sự, làm biên tập phụ. Nhưng cũng trong hai năm ấy, ông và Phan Trọng Thưởng cùng làm riêng một chuyên luận "Tố Hữu nhà thơ cách mạng". Cuốn sách này ra đúng năm kỷ niệm nhà thơ Tố Hữu 60 tuổi, sách dày hơn 600 trang, in đẹp, giấy trắng. Thời ấy, nhà thơ Tố Hữu đang là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng nên không phải ai cũng có điều kiện dễ dàng tiếp cận. Ông vẫn nhớ, hôm đến tặng sách tại tư dinh nhà thơ Tố Hữu, ông và Phan Trọng Thưởng không được đi, chỉ có Giám đốc Nhà xuất bản và các cấp lãnh đạo của Ủy ban Khoa học xã hội đi tặng sách và chúc thọ mà thôi.
Sau khi làm xong cuốn sách này, Phan Trọng Thưởng thấy có khả năng làm nghiên cứu nhiều hơn nên chuyển qua làm nghiên cứu ở Viện Văn học. Nguyễn Cừ cũng định xin chuyển cơ quan nhưng ông Phạm Ngọc Hy khuyên ở lại, hứa sẽ cho làm biên tập viên chính. Để động viên Nguyễn Cừ, Giám đốc Nhà xuất bản Khoa học xã hội lúc bấy giờ là Phạm Hựu đã cho Nguyễn Cừ một chuyến đi Liên Xô làm chuyên gia xuất bản.
Khi đã quyết định gắn bó đời mình với nghề xuất bản, Nguyễn Cừ đã dành nhiều tâm huyết làm những bộ sách lớn, dày hàng vạn trang như 2 bộ "Tổng tập Văn học Việt Nam 10 thế kỷ" (từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX, 42 tập), được thực hiện từ năm 1980 đến 2000 do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành và "Tổng tập Văn học Việt Nam thế kỷ XX" (100 tập) tiếp nối từ năm 2000 đến năm 2010 thì trọn bộ do Nhà xuất bản Văn học xuất bản và công bố. Nguyễn Cừ là thư ký khoa học và cũng là người tổ chức bản thảo, đồng biên soạn. Nguyễn Cừ cho rằng, hai bộ sách làm trong ba mươi năm này đã tập hợp được hàng trăm các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ cùng tham gia viết và biên soạn. Có thể ví, hai bộ sách Tổng tập này như một thư viện nhỏ về các tác giả tiêu biểu và về nền văn học có chữ viết của dân tộc Việt Nam từ trước tới nay.
Chính trong quá trình làm hai bộ sách lớn này, Nguyễn Cừ đã có nhiều kỷ niệm với các giáo sư, nhà nghiên cứu và các nhà văn. Ông kể: "Ngày ấy chưa nhiều ôtô. Tôi đi Liên Xô về mua được chiếc xe mô kích màu đỏ, ngày nào, tuần nào tôi cũng qua nhà GS Đinh Gia Khánh vừa để chuyển bản thảo vừa là để đưa ông tới chỗ này chỗ kia họp hành. Một lần, GS Đinh Gia Khánh bảo: "Mình nói ông đừng tự ái, hàng xóm tập thể của mình tưởng ông là xe ôm thuê tháng cho mình đấy". Tôi cười chẳng biết nói gì. Họ tưởng tôi là xe ôm thuê tháng là đúng thôi, quần áo lôi thôi, đi xe rẻ tiền, ngày nào cũng xuống đón đưa ông đúng giờ và lếch thếch ôm hàng chồng bản thảo lên tầng cho giáo sư. Một lần ông hỏi tôi: "Dụng mộc như dụng nhân là thế nào?". Tôi trả lời: "Dùng gỗ làm đồ gỗ phải biết chất gỗ gì làm đồ gì cho tốt nhất, dùng người phải biết họ mạnh mặt gì và yếu mặt gì?". Giáo sư cười rồi bảo: "Biên tập viên cũng vậy, dụng tác giả đặt bản thảo phải biết họ giỏi về điểm nào, sở trường, sở đoản, thậm chí cả tính nết nữa mới tổ chức đặt được những bản thảo hay". Tôi nghiệm ra giáo sư nói đúng. Văn hóa dân gian có ý nghĩa rộng lớn là vậy, chính kinh nghiệm này giúp cho tôi mỗi lần tiếp xúc với tác giả nào đều chịu khó tìm hiểu về họ, nhờ vậy khi lên làm Giám đốc - Tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học, mỗi năm xuất bản từ 500 - 600 đầu sách, tôi mới có cách đọc duyệt ít để sai lỗi về chính trị, tư tưởng…".
Trong khi, không ít các Nhà xuất bản sách đứng trên bờ vực khó khăn khi đi vào xã hội hóa. Sách ế, sách không hay, văn hóa đọc bị các hình thức giải trí khác chèn ép, rồi các nhà sách tư nhân xuất hiện nhiều, cạnh tranh khốc liệt. Các nhà xuất bản vốn không có, tự làm nuôi nhau nhưng vẫn phải hoàn thành các nhiệm vụ chính trị tư tưởng. Trước sức ép đó, nhiều Giám đốc, Tổng biên tập phải xin rút không nhận hoặc luân chuyển cơ quan khác. Vậy nhưng Giám đốc Nguyễn Cừ vẫn xông xáo với thời cuộc, vẫn tiếp tục truyền thống của Nhà xuất bản Văn học là làm những bộ sách lớn. Xét ở một khía cạnh nào đó, ông là người "có công" đối với nền văn học Việt Nam cũng như các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam, vì trong suốt quá trình làm Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, ông đã ký duyệt cho "ra lò" hàng mấy chục bộ Toàn tập của các nhà văn như "Nguyễn Công Hoan toàn tập", "Nguyên Hồng toàn tập", "Nguyễn Đình Thi toàn tập", "Chu Văn toàn tập", "Phan Tứ toàn tập", "Chế Lan Viên toàn tập", "Tú Mỡ toàn tập", "Tố Hữu toàn tập", "Trần Thanh Mại toàn tập", "Vũ Ngọc Phan toàn tập"; "Tản Đà toàn tập", "Nguyễn Trãi toàn tập" và lớn hơn nữa là bộ "Toàn tập tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh" (30 tập). Ngoài ra, ông còn sưu tầm, biên soạn những bộ sách lớn như bộ "Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 -1945" (8 tập) chung với Giáo sư Nguyễn Hoành Khung (ấn hành năm 1980), bộ "Văn chương tự lực văn đoàn" (3 tập) làm chung với Phan Trọng Thưởng (in năm 1999), bộ "Phóng sự Việt Nam 1932-1945" (3 tập, ấn hành năm 2000). Tuy nhiên, bộ sách biên soạn mà ông tâm đắc nhất trong đời làm xuất bản của mình có lẽ vẫn là cuốn "Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam" in lần đầu năm 1990, cuốn "Truyện cười Việt Nam hiện đại" in năm 1996 và bộ "Truyện cổ tích Việt Nam hay nhất" in năm 1992. Cả 3 cuốn này đến nay đã được tái bản nhiều lần.
Năm nay, Nguyễn Cừ đã bước sang tuổi lục tuần. Theo quy định của Nhà nước, ông đã đến tuổi nghỉ hưu và trao cương vị lại cho những người kế cận. Có lẽ bất cứ ai, chứ không chỉ riêng ông, cũng sẽ có chút bùi ngùi khi rời nhiệm sở, nơi mình đã gắn bó như chính ngôi nhà thứ hai trong cuộc đời. Trong ánh sáng mờ mờ của ngọn nến, tôi thấy trong ánh mắt cười của ông có chút buồn vương vấn, cả một nỗi lo toan thấp thoáng ẩn hiện khi nghĩ về một tương lai xuất bản trước những khó khăn của thời cuộc