Người phụ nữ quyền lực của Đế chế Ottoman

Hai cô gái trẻ cùng lớn lên ở một vùng đất xinh đẹp của nước Pháp. Họ đều nhận được lời tiên tri về tương lai sẽ trở thành người phụ nữ cao quý nhất chốn hoàng gia.

Mọi chuyện có lẽ đã ứng nghiệm với Joséphine, người vợ đầu của Hoàng đế Napoléon Bonaparte. nhưng câu chuyện của cô em họ Aimée du Buc de Rivéry có lẽ vẫn còn nhiều tranh cãi.

Tuổi thơ phóng khoáng

Sinh năm 1768 trong một gia đình sản xuất mía đường giàu có ở Pointe Royale, đảo Martinique, thuộc địa Pháp, Aimée du Buc de Rivéry chắc hẳn đã có một cuộc sống tự do và được cưng chiều. 

Theo nhiều sử gia, Aimée du Buc de Rivéry có thuở thơ ấu khá giống với Marie Josèphe Rose Tascher de La Pagerie, người sau này trở thành Hoàng hậu Joséphine của Hoàng đế Napoléon, bà ngoại của Hoàng đế Napoléon III. Joséphine từng viết về tuổi thơ của mình: “Tôi chạy, tôi nhảy, tôi múa, từ sáng tới tối; không ai gò bó hay ngăn cản”. Aimée và Marie được cho là khá gần gũi khi cùng lớn lên ở Martinique.

Trong cuốn “The Rose of Martinique: A life of Napoleons Josephine” (tạm dịch: Bông hồng xứ Martinique: Cuộc đời của Josephine) của tác giả Andrea Stuart, hai cô gái trẻ từng được nghe lời tiên tri về cuộc đời mình, rằng cả hai rồi sẽ lên tới địa vị cao nhất ở chốn “hậu cung”. 

Chân dung Aimée du Buc de Rivéry.
Chân dung Aimée du Buc de Rivéry.

Trong một lần dạo chơi, Aimée và Josephine vô tình gặp một thầy bói lạ mặt. Ông nói rằng Josephine sẽ hối tiếc “chuỗi ngày sống tự do tự tại ở Martinique”, nhưng sự đánh đổi ấy là xứng đáng khi cô sẽ lấy một “người đàn ông vốn không có gì nổi bật” nhưng sẽ là người đưa cô lên địa vị “còn cao hơn cả nữ hoàng”. Trong khi đó, số phận của Rivéry lại có vẻ sóng gió hơn khi người thầy bói cảnh báo rằng cô sẽ rơi vào tay những kẻ cướp biển, và bị bán tới “một hoàng cung lớn” ở phía bên kia thế giới.

Theo cuốn sách của Stuart, Hoàng hậu Joséphine sau này từng nhiều lần kể lại câu chuyện cũ về lời tiên tri, và cho rằng đó đúng là điều đã xảy ra những năm về sau với chính bà và người họ hàng Rivéry.

Lai lịch bí ẩn

Một số người cho rằng cô gái trẻ Aimée biến mất trong hành trình vượt biển năm 1778, chỉ một năm trước khi hành trình của Joséphine đưa cô trở thành Hoàng hậu nước Pháp. Một số người khác lại cho rằng Rivéry mất tích sau khi trở về từ một tu viện Pháp và bị các hải tặc bắt cóc. Thậm chí còn có những truyền thuyết nói rằng thực chất cô đã bị bắt cóc từ khi 2 tuổi, hay chết đuối trong một vụ đắm tàu.

Đa phần đều tin rằng Aimée du Buc de Rivéry từng được gửi đến học tại một tu viện ở Pháp, và trên đường trở về nhà, con tàu của cô đã bị cướp biển vùng Barbary đánh chiếm. Cô trở thành nô lệ và được đưa tới Constantinople (Istanbul ngày nay) như một món quà dành cho Quốc vương Ottoman dưới danh nghĩa Tổng đốc Algiers. Tại đây cô gái trở thành một trong những người vợ của Quốc vương dưới cái tên Naksidil.

Chân dung Naksidil, người được tin chính là Aimée du Buc de Rivéry.
Chân dung Naksidil, người được tin chính là Aimée du Buc de Rivéry.

Naksidil là người vợ hết mực sủng ái của Quốc vương Ottoman Abdul Hamid I, và sau này là mẹ của Quốc vương Mahmud II. Bà trở thành người vợ chính thức (kadin) thứ tư của Quốc vương và đã nhiều lần chứng kiến cuộc tranh đấu trong hậu cung, nhất là khi người vợ thứ nhất Nükhet Seza và người vợ thứ hai là Mihrimah đối đầu nhau để tìm cách đưa con trai mình lên vương vị. Không tham gia những đấu đá này, Naksidil chỉ lặng lẽ theo dõi và tìm cách bảo vệ con trai mình.

Năm 1789, thời điểm diễn ra cuộc Cách mạng Pháp, Quốc vương Abdul Hamid I qua đời. Selim III lên ngôi ở tuổi 27, kế vị chú mình, và cho phép Naksidil tiếp tục ở lại cung điện Seraglio cùng con trai mình là người em họ Mahmud. 

Đối với Selim, Naksidil là tượng trưng cho những nét văn hóa Pháp mà ông luôn ngưỡng mộ. Bà đã trở thành bạn tâm giao của Quốc vương Selim III, dạy ông học tiếng Pháp và thời đó là lần đầu tiên Ottoman cử đại sứ thường trực tới Paris. Selim III đã thành lập một tòa soạn báo ở Pháp và cho phép Naksidil trang trí cung điện theo phong cách vốn thịnh hành thời bấy giờ tại Pháp.

Tuy nhiên, chính những cải cách này đã khiến ông phải đánh đổi mạng sống của mình. Quốc vương Selim III bị sát hại vào năm 1807 bởi những kẻ cực đoan không ủng hộ chủ nghĩa tự do mà ông khởi xướng. Các sát thủ tìm cách giết chết Mahmud song Naksidil đã nhanh trí giấu con trai mình. 

Mahmud sau đó trở thành Quốc vương của Đế chế Ottoman vào năm 1808, hoàn thành những cải cách quan trọng từ thời Selim III, phần lớn đều có sự ảnh hưởng từ người mẹ, để cứu vãn đế quốc đang suy vong trầm trọng. 

Là một con người thông minh và có nhận thức, ông đã học hỏi các cải cách ở phương Tây, đặc biệt là về quản trị, quân đội, pháp luật và tài chính. Mahmud II được xem là người đã hiện đại hóa Đế quốc Ottoman và được ví với Peter Đại đế của Đế chế Ottoman.

Naksidil vốn luôn tuân thủ chặt chẽ những nghi lễ Hồi giáo trong chốn hậu cung song sâu thẳm trong tim bà vẫn luôn là một tín đồ Cơ đốc giáo. Ước nguyện cuối cùng của Naksidil là được một linh mục hoàn thành những nghi lễ cuối cùng khi bà qua đời. Quốc vương Mahmud II đã không từ chối mẹ mình, và khi Naksidil qua đời, lần đầu tiên một linh mục Cơ đốc giáo được bước chân qua cánh cổng cung điện vào chốn hậu cung.

Đây là điều cực kỳ đặc biệt, bởi hậu cung Ottoman (hay còn lại là harem hoặc haram), trong tiếng Ảrập có nghĩa là "cấm". Đây là nơi tuyệt mật cấm kị đối với nam giới và cả những phụ nữ bình thường khác bởi chỉ có chủ nhân của đế chế là các Quốc vương Ottoman mới được đặt chân đến, ngoài ra có các hoàng tử, nhưng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ. Họ cũng chỉ được ở đây với mẹ cho tới năm 16 tuổi.

Hậu cung của Đế chế Ottoman không phải là một khu vực kiến trúc mà hơn thế, nó giống như một thành phố thu nhỏ. Sự sủng ái mà Naksidil có được từ Quốc vương Abdul Hamid I được thể hiện qua việc bà có riêng cả một cung điện cho mình và được phép thể hiện những giá trị, cũng như nền văn hóa quê hương tại đó.

Khẳng định và bác bỏ

Có rất nhiều tài liệu chứng minh nguồn gốc và xuất thân của Naksidil. Một bức thư trong cuốn Royal French Women in the Ottoman Sultans Harem: The Political Uses of Fabricated Accounts from the Sixteenth to the Twenty-First Century (tạm dịch: Người phụ nữ Hoàng gia Pháp trong Hậu cung của Quốc vương Ottoman: Chính trị từ các câu chuyện từ Thế kỷ 16-21) của Christine Isom-Verhaaren viết về Naksidil sau khi bà qua đời vào năm 1817,  có đoạn: “Có tin nói rằng Thái hậu vừa qua đời là người Pháp… và rằng khi bà chỉ mới 2 tuổi, cha mẹ bà đã mang bà tới nước Mỹ. Không may họ bị bắt cóc tới Algiers, và qua đời ở đó… 

Quốc vương Mahmud II, con trai của Naksidil.
Quốc vương Mahmud II, con trai của Naksidil.

Bà ấy đã được đưa đến cho Abdul Hamid, người nhận thấy vẻ xinh đẹp của bà và sắc phong bà ấy… Người ta nói rằng bà ấy có sự hòa nhã và lịch thiệp của người Corsica và Georgia, điều chẳng quá gây ngạc nhiên bởi bà ấy là người Pháp”.

Dưới thời Quốc vương Ottoman Abdulaziz, khoảng giữa thế kỷ trước, Hoàng hậu Eugenie (vợ Hoàng đế Napoléon III) đã tới thăm Constantinople và muốn gặp những người phụ nữ trong hậu cung. Cuộc gặp nhanh chóng được sắp xếp. 

Hoàng hậu Eugenie tỏ ra rất hào hứng với những gì bà được chứng kiến và rất muốn trò chuyện cùng mọi người, bà hỏi: “Ở đây có ai có thể nói được tiếng Pháp hay không?”, song tất cả đều nhìn nhau và lắc đầu. Cuối cùng một phụ nữ có tuổi nói: “Trước khi Thái hậu Nakshedil qua đời, có một cô gái trẻ được bà đặt tên là Naime, và được bà ấy dạy tiếng Pháp. Và tôi nghĩ cô gái ấy hiện vẫn sống ở Cung điện Xưa”. 

Naime được gọi tới từ “Cung điện của Những người không ai muốn”, và được đưa tới gặp Hoàng hậu Eugenie. Naime có chút rụt rè song cô khá thành thạo tiếng Pháp với ngữ điệu vùng Martinique.

Một câu chuyện khác, diễn ra vào khoảng những năm 1860. Trong chuyến thăm Paris, Quốc vương Abdul Aziz, con trai của Quốc vương Mahmud II từng nhắc đến việc bà nội của ông và Hoàng đế Napoleon III có mối quan hệ huyết thống. Điều này được nhiều người nhấn mạnh cho thực tế Rivéry và Naksidil là cùng một người. Song câu hỏi là vì sao sự thật của câu chuyện lại khiến người ta có nhiều tranh cãi đến như vậy trong suốt chiều dài lịch sử?

Câu trả lời thỏa đáng nhất có lẽ là bởi yếu tố chính trị. Nhìn từ góc độ của Đế chế Ottoman, việc có mối huyết thống với hoàng gia Pháp đơn giản chỉ là một chính sách đối ngoại khéo léo. Còn với người Pháp, giả thuyết này càng củng cố tuyên bố của Hoàng đế Napoleon III về dòng máu hoàng gia bởi ông không thuộc dòng dõi hoàng tộc truyền thống.

Lăng mộ của Thái hậu Naksidi.
Lăng mộ của Thái hậu Naksidi.

Thật ra, sự kết hợp của một người thừa kế giàu có và một nhân vật trong hoàng cung không bắt đầu từ Rivéry và Naksidil. Từ thế kỷ 16, đã có tin đồn cho rằng một công chúa Pháp từng được gả tới hoàng gia Ottoman. Tuy nhiên, có những sử gia cho rằng thời điểm cô gái trẻ Aimée mất tích và việc Hoàng tử Mahmud II ra đời không có sự logic, và có những bằng chứng cho thấy Naksidil thực chất đến từ vùng Caucasus, chứ không phải từ Martinique. 

Nhà nghiên cứu Robert Vine viết: “Truyền thuyết nói rằng 2 cô gái trẻ, là chị em họ, tại một hòn đảo ở Carribe đã lần lượt trở thành Hoàng hậu Pháp và mẹ của Quốc vương Ottoman thật sự là một câu chuyện ly kỳ, song đáng tiếc là chẳng hề có bằng chứng nào chứng minh tất cả đều là sự thật”.

Rất có thể truyền thuyết đã được người ta dựng nên với những dụng ý nhất định. Nhiều câu chuyện có từ đầu thế kỷ 16 đã được thêu dệt về mối quan hệ giữa hoàng gia Pháp và Ottoman vì động cơ chính trị, và nhằm mục đích rõ rệt là hợp thức hóa mối liên minh giữa các chế độ này. Vì vậy nhiều người tin rằng câu chuyện về Aimée - Naksidil chỉ là một trong số đó. Ở thời đó, người ta thậm chí còn không e ngại hay giấu diếm gì những câu chuyện về các công chúa Pháp bị bắt cóc, mà thực tế cả Hoàng đế Napoleon và Quốc vương Abdulaziz đều tỏ ra rất thoải mái khi nói về mối liên hệ này.

Về sau này, những truyền thuyết tương tự vẫn được viện dẫn để nói về sự bí ẩn và chuyên chế của Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông hay đạo Hồi nói chung. Các truyền thuyết thậm chí còn củng cố hơn định kiến cho rằng Đế chế Ottoman chỉ là một quốc gia kém phát triển, nơi ngay cả một người nô lệ phương Tây cũng đủ sức sáng tạo ra những cải tiến trong khi người bản địa chẳng tự thúc đẩy được những cải cách cần thiết.

Thái Hân (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.