Trong những năm tháng chiến tranh, mỗi khi ông về thăm quê thì cả làng đều biết. Thế là ngay buổi tối hôm đó, cứ sân nhà ai có hai người trở lên là người ta nói chuyện về ông. Ông là một sĩ quan xe tăng. Hồi ấy, một sĩ quan xe tăng đeo lon cấp tá đối với người lớn trong làng là một sự ghê gớm lắm rồi chứ nói gì đến lũ trẻ con.
Ông càng trở nên nổi tiếng khi tham gia chỉ huy một đơn vị xe tăng đánh cánh đồng Chum. Ngày ấy, Đài Tiếng nói Việt
Sau sự kiện cánh đồng Chum mấy năm, ông về thăm làng trên một chiếc commăngca. Trẻ con đổ xô đến xem mặt ông. Người ta kháo nhau đầy kiêu hãnh là ông đã được phong danh hiệu Anh hùng LLVTND. Thực tế không phải vậy. Nhưng người làng tôi và nhất là lũ trẻ con thì luôn luôn nghĩ ông thực sự là một anh hùng. Một người ra sống vào chết, chỉ huy cả đoàn xe tăng nghiền nát quân thù mà khi về làng quân hàm quân hiệu sao đỏ đầy vai và lúc nào cũng cười cười nói nói chào hỏi cả làng cứ như đi ăn cỗ cưới về thì phải là Anh hùng chứ còn là gì nữa.
Ông có mấy năm đi Liên Xô học về xe tăng. Tôi không biết rõ ông sang Liên Xô học trước hay sau khi đánh trận cánh đồng Chum. Chỉ biết mấy người có hiểu biết ở làng tôi nói rằng học quân sự ở Liên Xô về thì đánh đâu thắng đấy. Một ông cán bộ người làng tôi công tác ở Ty Lao động, nói ông đỗ tiến sĩ xe tăng ở Liên Xô. Sau này lớn lên, tôi hiểu không phải thế. Nhưng làng tôi đã coi ông là tiến sĩ mà là tiến sĩ xe tăng mới ghê chứ. Người làng chẳng cần phải nhìn thấy bằng của ông. Cái danh hiệu tiến sĩ ngày ấy mới có sức nặng làm sao. Lẽ đương nhiên ông niềm tự hào của người làng. Nhiều câu chuyện, nhiều nhân vật ở quê tôi nghe không biết đâu là thực đâu là hư. Nhưng việc ông là Hiệu trưởng Trường Tăng Thiết giáp của Quân đội nhân dân Việt
Về hưu, nhưng ông không về làng. Ông được phân nhà hay đất gì đó ở phía Cầu Giấy. Con cái ông cũng không có ai ở làng. Tất cả đã ra công tác ở thành phố. Bây giờ nhiều ông bố bà mẹ vì con cháu mà phải rời quê ra thành phố. Đối với họ, thành phố đôi khi chỉ là sự cực nhọc tinh thần chứ chẳng có gì hấp dẫn. Khi ông về hưu, ông mới đón mẹ ra thành phố. Mấy năm trước, người làng tôi bảo nhau ông Thướng hiện bán xổ số. Hai mươi năm trước, một ông đại tá bán xổ số là chuyện lạ. Nhưng bây giờ cũng là chuyện bình thường. Về hưu ở thành phố bán xổ số hay bán nước chè ấm như mươi năm trước kia cũng không hẳn là vì thiếu ăn mà cũng là một việc làm cho khuây khỏa tuổi già.
Suốt ngày đọc báo và xem tivi thì chỉ có ốm thêm. Các ông về hưu ở quê còn có việc này việc nọ như chăn con gà, trồng ngọn rau, hoặc trồng cây cảnh chứ ở thành phố ao vườn đâu mà làm thế được. Cho nên bây giờ, nếu thấy một ông già ngồi sau quầy hàng trong ngôi nhà mặt đường bán từng hộp sữa tươi tiệt trùng không đường hay ngồi sau bàn xổ số chậm rãi đếm từng tấm vé xổ số thì đừng tưởng đó là một người bình thường. Có khi đó lại là một người từng vào sống ra chết làm khiếp đảm những đội quân xâm lược hùng mạnh nhất nhì thế giới. Hãy nhớ lại câu chuyện về những người lính lái chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào Dinh Độc lập ngày 30/4/1975 thì rõ. Sau sự kiện lịch sử ấy họ trở về quê hương bản quán làm nghề trồng lúa, cắt tóc, lái xe lam. Những người xung quanh họ không hề biết họ chính là những anh hùng cho đến ngày Đài Truyền hình Việt
Ông Thướng cũng vậy. Chỉ huy một đơn vị xe tăng đánh cánh đồng Chum. Sau chiến tranh làm Hiệu trưởng Trường Tăng Thiết giáp. Rồi ông về hưu, sống bình lặng với mẹ già. Năm nay, mẹ ông đã 104 tuổi. Nhưng nghe nói cụ vẫn còn khỏe lắm. Đôi khi cụ cứ bắt con cháu phải đưa cụ về quê. Cụ bảo: “Tao còn khỏe chán. Tao về tao đi cấy cũng đủ ăn, chưa phải nhờ đến đứa nào”. Người ta bảo cụ đã lẫn. 104 tuổi thì còn cấy gặt gì nữa. Nhưng trong trí nhớ của một cụ già nông thôn Việt
Trong thời chiến, người làng nói về ông như một người anh hùng, còn bây giờ nói về ông là nói về một người con hiếu thảo. Căn nhà ở Cầu Giấy của ông rất rộng, nhiều buồng, nhưng đã nhiều năm nay ông ngủ cùng giường với mẹ. Cụ đã quá nhiều tuổi. Vì thế nhiều lúc cụ đại, tiểu tiện trên giường mà không biết. Dù là nửa đêm hay gần sáng, dù mùa đông hay mùa hạ, những lúc như thế, ông lại thức dậy lau chùi, thay quần thay áo cho mẹ. Ông vừa làm những việc ấy vừa nói chuyện với mẹ.
Có người biết vậy bảo ông thuê “Ôsin” làm thay. Ông bảo: “Ngày xưa mình nhỏ, lúc ốm lúc đau, lúc đái lúc ỉa, mẹ chẳng nề hà. Thế thì bây giờ sao mình lại sợ bẩn mà đi thuê người khác”. Câu nói của ông sao lại giản dị đến như vậy. Câu nói giản dị ấy làm người nghe ứa nước mắt và cũng làm cho không ít người thấy xấu hổ. Nhưng để giản dị được như vậy thì lòng ông phải hiểu công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và có lòng hiếu thảo đến nhường nào.
Ông cụ thân sinh ra ông mất sớm. Mẹ ông góa chồng khi vẫn còn trẻ, một nách nuôi mấy đứa con mà không một lời than vãn. Người làng kể, vào những năm đói, cụ nấu cả cám lợn để nuôi các con. Từ vòng tay yêu thương của cụ, những đứa con cụ lớn lên đều trở thành cử nhân, công tác ở những nơi danh giá. 104 tuổi, cụ có nhiều cháu chắt. Không biết cháu chắt cụ có nghe được những câu chuyện về cuộc đời của một người mẹ như cụ không. Đặc biệt, cháu chắt cụ có biết được rằng cụ có một người con hiếu thảo như vậy không. Người con này là một anh hùng, đánh xong giặc về nhà nuôi mẹ. Truyền thống của người Việt là chính vậy. Sự phi thường là như vậy. Cuộc đời này không ít những người mải mê kiếm tiền, mải mê sống với những ý thích của họ đến khi cha mẹ mất về được đôi ngày, chít vội mảnh khăn trắng, khóc được đôi câu “Mẹ ơi, con thương mẹ quá”. Thương như vậy thì là thương cái gì?
Vừa rồi gặp mấy người quen, hỏi thăm biết ông không còn bán xổ số mấy năm nay rồi. Ông dành phần lớn thời gian chăm sóc mẹ già. 104 tuổi đã là cái lá vàng trên cây có thể rụng bất cứ lúc nào. Một sáng nào đó tỉnh dậy không còn bóng mẹ trong ngôi nhà nữa thì những người con sẽ trống vắng đến nhường nào. Chiến tranh đã đi qua, vinh quang trận mạc đã trở thành ký ức, giờ ông sống với người mẹ già 104 tuổi, đêm đêm mắc màn, kê gối cho mẹ đi nghỉ. Sau đó, ông lại nằm xuống bên mẹ như một cậu bé của 73 năm về trước để mẹ lại che chở cho ông