Nguyễn Thị Mai sinh năm 1955. Tính theo "tuổi nhà nước", thì 58; còn theo tuổi "ta", hay gọi "tuổi mụ", chị đã 59. Nhưng gương mặt với khuôn trăng đầy đặn, mềm mại của chị chưa có những dấu hiệu tuổi già. Thần khí gương mặt ấy rất sáng. Đôi mắt nâu, nhìn mơ màng mà thăm thẳm. Tôi gọi đó là gương mặt thanh tân, gương mặt của mùa xuân.
Nói như thế không có nghĩa cuộc đời Nguyễn Thị Mai chỉ luôn gặp niềm vui và may mắn. Với 15 năm là giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình, Hà Tây, đi qua thời bao cấp sang thời kinh tế thị trường không thiếu những truân chuyên, vất vả như phần đông giáo viên thuở ấy. Ngay cả khi chị được cất nhắc về làm cán bộ Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, rồi giảng viên Học viện Phụ nữ, cuộc sống của chị cũng không sênh sang gì. Chị vẫn nhận làm cộng tác viên "ruột" của Báo Phụ nữ Việt Nam suốt 15 năm nay, trả lời trên dưới một ngàn câu hỏi về Hạnh phúc gia đình, đã đành trách nhiệm là chính, nhưng không thể không kể đến món nhuận bút nho nhỏ nhưng "tích tiểu thành đại", góp vào nguồn sống hằng ngày của bản thân và chồng con.
Nguyễn Thị Mai quê gốc thuộc huyện Cẩm Khê - Phú Thọ. Nơi sinh của chị lại là Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội. Chị có thơ đăng báo từ năm 1976. Từ bấy đến nay, thơ của chị vẫn đăng đều đều trên các báo và tạp chí. Chị có 8 tập thơ và 2 tập truyện ngắn được xuất bản. Thơ Nguyễn Thị Mai không có những dị biệt hay bùng nổ gây sửng sốt cho bạn đọc, trở thành một "hiện tượng" cho công chúng luận bàn. Mai không thích tìm cách quảng bá cho mình. Sống trong môi trường giáo dục, Nguyễn Thị Mai luôn phải tự biết "điều tiết", giữ cân bằng giữa cái "thái quá", "cực đoan" nghệ sĩ với sự mô phạm, chỉn chu của người thầy.
- Tôi rất thích thơ và tập làm thơ từ hồi học lớp 5 - Nguyễn Thị Mai kể - Lớn lên thi vào Trường Đại học Sư phạm tôi cũng chọn Khoa Văn để có cơ hội tiếp cận với văn chương. Vì thế, từ lúc là sinh viên Khoa Văn đến khi trở thành nhà giáo, tôi đã được đọc nhiều thơ của các nhà thơ nổi tiếng và viết được nhiều bài thơ cho mình. Tôi nghĩ giáo viên dạy văn mà làm thơ sẽ có rất nhiều thuận lợi. Đó là sẽ dễ đồng cảm với tâm hồn tác giả khi giảng văn. Biết cách nắm bắt ý tưởng sâu kín ẩn trong hình tượng của tác phẩm, sẽ tinh tế hơn trong cách cảm, cách nghĩ về những tứ thơ và vì thế mà yêu văn chương, say mê nghề nghiệp, hết mình với giờ giảng.
Tuy nhiên cũng có những khó khăn. Ấy là khi phải giảng những tác phẩm thơ không đồng điệu với tâm hồn mình, hoặc gặp những câu thơ chưa hay, lòng thấy chán nản, không nhiệt tình giảng. Ngoài ra, không phải đồng nghiệp nào cũng yêu văn chương như mình. Nếu say đắm thơ ca quá sẽ bị coi là viển vông, lạ đời, lạc lõng.
Hẳn vì thế chăng mà đọc thơ Nguyễn Thị Mai, ta thấy sự ấm áp, dịu dàng, đôn hậu lấn át cái gai góc, dị biệt, phá phách. Dịu dàng, đôn hậu, ấm áp nhưng không hề bằng phẳng, thủ cựu, nệ cổ. Điều đó thể hiện trong quan niệm sáng tác của Nguyễn Thị Mai: "Điều ám ảnh, trăn trở nhất trong quá trình sáng tác của tôi, đó là tìm tứ. Nhưng tứ phải lạ, phải mới, phải bất ngờ và mê hồn người đọc. Nhiều người không thuộc được bài thơ nhưng rất nhớ tứ, xúc động vì cái tứ chứ không phải vì hình thức bài thơ. Có tứ sẽ có hình thức thể hiện".
Nhà thơ Nguyễn Thị Mai cùng các đồng nghiệp. Từ trái qua: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai, nhà thơ Lâm Xuân Vi, nhà thơ Trương Nam Hương và nhà thơ Bình Nguyên. Ảnh: Minh Lê.
Nguyễn Thị Mai kể về kỷ niệm sâu sắc nhất trong quá trình sáng tác của mình, đó là lần đầu tiên chị được đăng bài thơ "Tâm sự cô giáo trẻ" trên Báo Hà Nội Mới năm 1976. Bài thơ này được nhiều bạn sinh viên Khoa Văn - Đại học Sư phạm Hà Nội 1 thuộc lòng và còn chép vào sổ tay hoặc sưu tầm đăng trên báo tường của lớp.
Như vậy, con đường văn học của Nguyễn Thị Mai được khởi đầu từ rất sớm, và chị miệt mài đi trên con đường ấy, song le, chị không "đặt cược" cả cuộc đời mình vào thi ca. "Tôi hiểu: người phụ nữ làm thơ để có được vị trí trong thi đàn là vô cùng khó khăn, có khi phải đánh đổi cả hạnh phúc. Tôi rất vui khi đã có một số công chúng của riêng mình. Thành công này chắc là vì cách thể hiện giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói của công chúng và sự quan tâm của mình với họ. Việc sáng tác của tôi giống như người đi trên dây làm xiếc. Phải luôn thăng bằng, tỉnh táo giữa thơ và đời. Chân dung tôi, tôi đã viết: "Em thì tất tưởi mưu sinh/ Nuôi con bến thực nuôi mình bến mơ".
- Trong số những tác phẩm đã được công bố của mình, Mai hài lòng với tác phẩm nào nhất? Vì sao? Nó được viết trong hoàn cảnh nào?
- Nói chung đã sáng tác ra thì tác phẩm nào mình cũng tâm đắc, kể cả được đăng hoặc không đăng - Mai nói - Tuy nhiên, có những bài thơ mỗi lần đọc lên tôi vẫn xúc động vô cùng, có khi còn nghẹn ngào không đọc nổi. Đó là những bài viết cho mẹ, cho cha, cho gia đình và bản thân mình".
Tôi đã đọc những bài thơ ấy. Viết về mẹ, Nguyễn Thị Mai không thiếu những câu thơ cảm động:
Thơm cay một miếng trầu xưa
Mà con phải bớt tiền mua vì nghèo
Bây giờ đã hết gieo neo
Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không!
Từ ngày đưa mẹ ra đồng
Qua hàng trầu vỏ con không dám nhìn
(Qua hàng trầu nhớ mẹ).
Với cha, Nguyễn Thị Mai viết:
Còn bờ tre, tiếng gà trưa
Dải đê bụi nắng, trơn mưa bước làng
Thương quê, thương chuyến đò sang
Gạo châu củi quế, vắt ngang lở bồi
Thơ không nói nổi nghĩa đời
Con thành chú Cuội ời ời gọi cha
Đất đồng Phương Xá quê ta
Thấm lời con xuống sâu xa mạch nguồn
(Lời thì thầm với cha).
Với riêng tôi, tôi thích những bài thơ Nguyễn Thị Mai viết về mùa xuân hơn cả. Những trang thơ viết về Tết và mùa xuân của Nguyễn Thị Mai luôn gắn với chuyện tình yêu của chị, rất chân thực nhưng lại mang tính khái quát cao nên tôi tin sẽ có sự đồng cảm từ số đông bạn đọc:
Thực ra lộc biếc ngày em đến
Phút xuân tan chảy nhựa lên cành
Em về đào quất miên man phố
Thi tứ bộn bề ở lại anhXa nhau, đá cũng niềm trông ngóng
Huống người đồng vọng trái tim yêu
Giao thừa hái lộc xin trời đất
Một chút duyên may cũng đã nhiều
(Khai bút giao thừa).
Và đây là cảnh quấn quýt giữa người và hoa trong phiên chợ Tết:
Chợ bên sông, dặn anh rồi
Thế mà hương sắc dẫn người đi đâu?
Vòng vo phố, quanh co cầu
Đuổi theo cành quýt, gật đầu cành mai
Mải tìm hồng tía không gai
Đào hàm tiếu nụ, quất sai trĩu càn
(Đi chợ hoa xuân).
Nguyễn Thị Mai sinh ra và lớn lên ở vùng nông thôn Gia Lâm. Về thành phố công tác đã lâu nhưng bản tính cùng với cốt cách sư phạm giúp chị lưu giữ cái hồn quê rất bền và đẹp: "Giêng hai này anh có đợi em không?/ Khi con sông phù sa hồng trở lại/ Qua rét hại, xanh non dần bờ bãi/ Nước đã vào ấm chân mạ đồng chiêm…". Bài thơ kết thúc khiến không chỉ tác giả mà tôi nghĩ cả bạn đọc cũng có cảm xúc rưng rưng lệ như chị: "Giêng hai ơi! anh có đợi em về/ Mới hỏi thế đã cay xè lên mắt/ Yêu thương ạ, tiếng mùa xuân dìu dặt/ Cứ gọi em phía cỏ biếc chân trời" (Gửi giêng hai).
Nếu tiếp tục đọc những bài thơ về mùa xuân của Nguyễn Thị Mai, ta còn nhặt ra vô khối những câu thơ bình dị nhưng lại có sức lay động mạnh mẽ trái tim người, chẳng hạn: "Lời yêu đánh rơi không ai về tìm nữa/ Trước cửa chùa, đất giữ hộ còn nguyên… / Đến bây giờ khi ta đã xa nhau/ Mới thú nhận lời hoa là có thật / Giá hỏi lại tầm xuân lần thứ nhất/ Cánh cuối cùng hoa vẫn nói yêu Anh" (Tản mạn với tầm xuân); "Lời hẹn rung rinh lá vẫy/ Hay đâu cơn gió bứt đi/ Dù sao... đã mùa xanh thắm/ Trong cây nhựa hát thầm thì" (Mùa xuân năm hạn).
Giản dị thế, nhưng không sơ khoáng, nôm na. Tài năng cộng với tình yêu cuộc sống, yêu đến đớn đau, mới viết nên những câu thơ như thế.
Hà Nội, tiết Nô-en năm 2013