Theo ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA), Nghị quyết số 10-NQ/TW là văn kiện mang ý nghĩa chiến lược, thể hiện sự chuyển hướng từ thu hút FDI theo số lượng sang ưu tiên chất lượng, công nghệ và hiệu quả lan tỏa.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I.
75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung, trong đó có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam; thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
“Những mục tiêu cụ thể này cho thấy doanh nghiệp trong nước không còn đứng ngoài quá trình thu hút FDI mà đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực sản xuất và từng bước làm chủ công nghệ. HANSIBA đặc biệt đánh giá cao định hướng thu hút các dự án công nghệ cao, R&D, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp hỗ trợ”, ông Vân nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Vân cho rằng, Nghị quyết số 10-NQ/TW mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp CNHT, song cũng đặt ra nhiều thách thức về công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn sản xuất và khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, doanh nghiệp cần chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nhân lực, hoàn thiện hệ thống quản trị theo chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, hạn chế về vốn vẫn là rào cản lớn đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy, ông Nguyễn Vân cho rằng cần thúc đẩy các hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết và M&A với doanh nghiệp FDI để tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm quản trị và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cộng đồng doanh nghiệp CNHT cũng kỳ vọng Nhà nước ban hành các chính sách hỗ trợ thiết thực như xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về CNHT, phát triển nền tảng kết nối cung - cầu, cụm liên kết ngành, đồng thời hỗ trợ vốn, đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực quản trị. Theo HANSIBA, mục tiêu của Nghị quyết không chỉ là thu hút dòng vốn chất lượng cao mà còn tạo động lực để doanh nghiệp Việt Nam từng bước trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ở góc độ khác, ông Đỗ Nguyễn Hồng Linh, Giám đốc nền tảng số Vietnam Industry Zone (VIZ) nhận định, Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển từ thu hút FDI đơn thuần sang sử dụng FDI như công cụ chiến lược để tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cấp doanh nghiệp Việt Nam.
Theo ông Linh, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái định hình, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở chi phí lao động hay ưu đãi đầu tư mà ở chất lượng thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái công nghiệp. Thành công của Nghị quyết sẽ được đo bằng số lượng doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, trở thành đối tác của các tập đoàn đa quốc gia và đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ông Linh cho rằng, cơ hội lớn nhất từ Nghị quyết là giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng tầm vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, doanh nghiệp cần đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao năng lực dữ liệu, kết nối thị trường và tăng cường liên kết theo hệ sinh thái. Đồng thời, cần hình thành các liên minh công nghiệp, logistics, đổi mới sáng tạo và các nền tảng kết nối chuỗi cung ứng quốc gia, tạo nền tảng cho doanh nghiệp Việt Nam vươn ra khu vực và thế giới.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Billy Ho, Tổng Giám đốc Tập đoàn MiTAC, cho biết, Việt Nam đang trở thành điểm đến quan trọng trong chiến lược mở rộng của các tập đoàn công nghệ toàn cầu tại châu Á. Theo ông Billy Ho, việc đầu tư tại Việt Nam không chỉ nhằm mở rộng thị trường mà còn hướng tới xây dựng trung tâm sản xuất kết hợp công nghệ quốc tế với nguồn lực địa phương. Trong thời gian tới, MiTAC sẽ tập trung phát triển các lĩnh vực điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo (AI), đồng thời đẩy mạnh tuyển dụng, đào tạo đội ngũ kỹ thuật tại Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và nâng cao năng lực nhân sự.
Để đủ sức tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia, ông Nguyễn Hồng Phong, Chủ tịch Công ty TNHH Dụng cụ An Mi (An Mi Tool) cho biết, An Mi Tool đã mạnh dạn đầu tư công nghệ, đẩy nhanh chuyển đổi số và từng bước tiếp cận mô hình nhà máy thông minh. Để tham gia chuỗi cung ứng, ông Phong cho rằng, cần thay đổi cách tiếp cận trong phát triển ngành, chuyển từ gia công đơn thuần sang ưu tiên hỗ trợ những doanh nghiệp đã làm chủ các chi tiết kỹ thuật phức tạp, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Ông Phong đề xuất cơ quan quản lý khảo sát, lựa chọn các doanh nghiệp tiêu biểu đang tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn như Samsung, Apple, Honda, Yamaha, Canon hay các hãng xe điện để xây dựng chương trình hỗ trợ trọng điểm, tạo ra những "đầu tàu" dẫn dắt ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển.
Nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ thu hút đầu tư chiến lược
Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại gắn với quy hoạch phát triển quốc gia, vùng và địa phương, mở ra các không gian, động lực phát triển mới; ưu tiên các công trình hạ tầng kết nối và trung tâm logistics ở các cảng biển đầu mối, sân bay quốc tế, đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc, đường thủy nội địa và các vùng động lực nhằm đón đầu xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
Bảo đảm cung ứng đủ và ổn định điện, nước, hạ tầng số, đáp ứng đủ nhu cầu quỹ đất sạch, dịch vụ hỗ trợ cho các dự án chất lượng cao, nhất là các dự án trung tâm nghiên cứu và phát triển, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành và các tổ hợp công nghiệp chiến lược.