PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái:

Nếu nghĩ “lòng vả cũng như lòng sung” sẽ rất khó phát triển

Hội nghị Văn hoá toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng diễn ra vào ngày 24/11. Đây là sự kiện chính trị, văn hoá lớn, huy động trí tuệ, tâm huyết của lực lượng văn nghệ sĩ, trí thức, nhà khoa học…

Dịp này, chúng tôi đã cuộc phỏng vấn PGS.TS Nghệ thuật học Nguyễn Thị Minh Thái. Với góc nhìn của một trong những nhà nghiên cứu uy tín lâu năm trong giới học thuật, đặc biệt là văn hoá, văn nghệ, bà đã chia sẻ thẳng thắn nhiều vấn đề còn tồn tại, cũng như giải pháp phát triển văn hoá, văn nghệ trong giai đoạn hiện nay.

Phóng viên: Thưa PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, Hội nghị Văn hoá toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng sẽ diễn ra vào ngày 24/11. Là người gắn bó với lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, theo bà, việc tổ chức Hội nghị này có ý nghĩa như thế nào trong thời điểm hiện nay?

pv nguyen thi minh thai 1.jpg -0
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Văn hoá truyền thông, Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông.

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái: Theo tôi, văn hoá được bàn thảo ở Hội nghị lần này rất rộng, rất lớn, nhằm phát triển văn hoá đúng với định hướng mà Đảng đã chỉ ra: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển. Tuy nhiên, ở đây, tôi chỉ trao đổi trong phạm vi về văn hoá, văn nghệ, tức là một nhánh của văn hoá Việt Nam nói chung.

Con người là chủ thể của văn hoá. Chủ thể văn hoá Việt Nam hiện nay, chiếm tới 70% vẫn là nông dân, văn hoá nông nghiệp là căn bản. Hiện nay, vô số cách nghĩ vẫn là cách nghĩ của nông dân cũ. Nông dân Việt Nam đã xây dựng một nền nông nghiệp rất Việt Nam.

Nhưng khi chuyển nền văn hoá nông nghiệp, nông thôn sang phát triển công nghiệp văn hoá, hiện đại, chắc chắn có rất nhiều bi kịch, nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Nói như cụ Đào Duy Anh thì đấy là bi kịch của sự phát triển.

Trước đây, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, trong cuộc đô hộ ấy, người Việt Nam không được học hành tử tế. Dưới chế độ thuộc địa, người dân Việt Nam chỉ là dân thuộc địa, không được đầu tư phát triển văn hoá, văn nghệ. Người Pháp chỉ xây dựng một trường duy nhất về nghệ thuật là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Thực dân Pháp có xây dựng 3 nhà hát ở Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, người ta gọi là nhà hát Tây vì chỉ phục vụ cho người Tây.

Người Việt Nam lại rất thích nghệ thuật, trong đó có kịch. Năm 1906, ông Nguyễn Văn Vĩnh sang Mác – xây để dự Hội chợ đấu xảo quốc tế, được tiếp cận  và ấn tượng mạnh với kịch nói của phương Tây, quyết tâm mang về Việt Nam.

Ông Vĩnh làm chủ bút tờ Đông Dương tạp chí, cho dịch 3 kịch bản của Molière sang tiếng Việt: Lão hà tiện, Kẻ ghét đời, Trưởng giả học làm sang. Nhưng kịch thì người ta không thể đọc bằng mắt mà phải xem trên sân khấu. Người Việt tự học làm kịch theo cách của mình.

Thời điểm “Chén thuốc độc” – vở kịch được chọn là dấu mốc quan trọng đầu tiên của Kịch nói Việt Nam ra đời, một nửa vẫn là nghiệp dư, tài tử. Ông Thế Lữ gọi mình là nhà dàn cảnh. Các diễn viên coi mình chỉ là tay ngang.

Người đi xem cũng coi như là dịp để ủng hộ từ thiện, vì đêm diễn không bán vé, chỉ đặt thùng quyên góp ủng hộ đồng bào bị ảnh hưởng lũ lụt. Kháng chiến chống Pháp thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, tình trạng nói trên chấm dứt. Người làm nghệ thuật được đào tạo tử tế, được Đảng, Nhà nước cử đi học ở các nước XHCN. Chúng ta đã xây dựng nhiều trường đào tạo nhiều loại hình nghệ thuật trong nước và gửi người ra nước ngoài học tập. Văn hoá, văn nghệ đã có những thời kỳ “hoàng kim”.

Nhưng trong bối cảnh hiện nay, phát triển văn hoá, nghệ thuật đang đối diện với nhiều thách thức mới. Hội nghị Văn hoá toàn quốc được tổ chức ở thời điểm này là sự kiện rất có ý nghĩa, nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề của văn hoá Việt Nam hiện nay.

Phóng viên: Từ kinh nghiệm và quan sát của một nhà nghiên cứu, bà cho rằng chúng ta cần có những giải pháp cụ thể nào để phát triển văn hoá Việt Nam, trong đó có văn hoá, văn nghệ?

 PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái: Muốn phát triển trong giai đoạn hiện nay, chúng ta buộc phải hội nhập với thế giới và hội nhập thì có những bi kịch phát triển. Văn hoá người Việt Nam vốn trọng tình. Nhưng để hội nhập, phát triển, chúng ta không thể chỉ tư duy “bằng bụng”, xử lý công việc một cách cảm tính, mà phải tư duy “bằng đầu”, trọng lý hơn. Nếu vẫn giữ quan niệm “lòng vả cũng như lòng sung”, chúng ta sẽ rất khó phát triển. Một dân tộc chan chứa tình cảm thì rất tốt, nhưng để phát triển cùng với phương Tây thì cần phải có sự cân bằng về lý trí.

Chúng ta hướng tới phát triển công nghiệp văn hoá, mà công nghiệp là xuất phát từ phương Tây, không phải là từ xã hội nông nghiệp truyền thống của phương Đông. Vì vậy, chúng ta cần xốc lại tư duy, đưa ra những phương pháp căn bản, hướng theo cách nghĩ của phương Tây. Giải pháp lớn nhất cho phát triển văn hoá Việt Nam lúc này là đổi mới về tư duy. Tư duy phải đặt trong sự phát triển chiến lược chứ không phải chiến thuật.

Hội nghị Văn hoá toàn quốc là hội nghị mang tính chất chiến lược phát triển văn hoá của Đảng, Nhà nước. Tôi hy vọng, Hội nghị Văn hoá lần này sẽ là giải quyết được vấn đề này. Từ đó, văn hoá, văn nghệ đóng góp vào sự phát triển văn hoá nói chung bằng các ngôn ngữ của nghệ thuật.

Ngôn ngữ ấy phải được tận dụng tuyệt đối, đúng hướng chứ không phải nhảm nhí với những chương trình, vở diễn tầm thường, những lời ca não tình, những sản phẩm ăn cắp của các danh họa rồi bán lấy tiền. Những thứ nhảm nhí này phải được dẹp bằng tư duy sáng suốt của người làm văn hoá, văn nghệ, của lãnh đạo đất nước.

Phóng viên: Nhiều quốc gia đã phát triển thành công công nghiệp văn hoá và văn hoá đã trở thành “sức mạnh mềm” quan trọng trong chiến lược phát triển nhằm củng cố vị thế, hình ảnh, tầm ảnh hưởng của họ đối với các quốc gia khác. Theo bà, chúng ta cần làm những gì để phát triển công nghiệp văn hoá, phát huy được “sức mạnh mềm” này?

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái: Như tôi đã nói ở trên, hiện nay chúng ta đang có vấn đề về tư duy phát triển. Phương pháp tốt nhất để thay đổi tư duy của người làm văn hoá văn nghệ là xây dựng công nghiệp văn hoá.

Trong công nghiệp văn hoá có ngoại giao bằng văn hoá, có ngoại giao bằng những tác phẩm tử tế như của Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản… mà chúng ta vẫn thấy chiếu đầy trên tivi Việt Nam. Phát triển công nghiệp văn hoá mang lại hiệu quả về kinh tế, tức là có tiền. Nhiều nghệ sĩ nước ngoài giàu khủng khiếp. Phát triển công nghiệp văn hoá có nhiều lợi ích như thế, tại sao mình không làm?

Vì vậy, sau Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần này, tôi đề nghị phải có hội nghị riêng về nhằm đưa công nghiệp văn hoá phát triển. Liên hiệp các Hội VHNT, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT phải suy nghĩ về việc này. Bởi vì đấy là phương tiện duy nhất để cứu nền văn nghệ đang khủng hoảng người xem, người nghe, người đọc… Văn hoá, văn nghệ cần phải được đặt đúng vị thế của nó.

Phóng viên: Xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái!

Ngọc Nguyễn (thực hiện)

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.