Một thập kỷ sau siêu bão Katrina tàn phá nước Mỹ

Hơn một thập kỷ đã trôi qua kể từ trận siêu bão Katrina, giới báo chí và chuyên gia Mỹ vẫn khắc ghi trong hồi ức bầu không khí sôi sục bởi áp lực nộp tin đúng hạn, những cuộc trao đổi chóng vánh giữa các phóng viên ảnh đã từng được rèn giũa tại nhiều khu vực thiên tai và chiến trường, tinh thần kiên định không lùi bước của các biên tập viên và lãnh đạo của các tòa soạn… Những nỗ lực phi thường này thực sự tạo nên một quang cảnh tác nghiệp ngoạn mục.

Tuy nhiên thử thách không nằm ở nhiệm vụ đưa tin nóng sốt về cơn bão, thử thách là nhiều năm tháng sau đó. Họ phải đối mặt với những vấn đề mới, từ việc xây dựng lại khu phố đến việc điều trị rối loạn căng thẳng hậu chấn thương cho những người sống sót sau cơn bão.

Họ phải cố gắng đấu tranh để cân bằng giữa cảm xúc cá nhân và chuyên môn trong bối cảnh nạn tham nhũng và giới chức kém cỏi bất tài cản trở việc tái thiết thành phố. Họ phải làm việc trong một môi trường truyền thông biến đổi dữ dội, với những biến động mà tất cả các nhà báo trên khắp nước Mỹ đều phải đối mặt.

Nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer Clarence Williams chụp ảnh này vào năm 2005 ghi lại cảnh hoang tàn của thành phố khi các con đê ở New Orleans bị vỡ.
Nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer Clarence Williams chụp ảnh này vào năm 2005 ghi lại cảnh hoang tàn của thành phố khi các con đê ở New Orleans bị vỡ.

Eve Troeh, Giám đốc thông tin của Đài phát thanh WWNO tại New Orleans

Tòa soạn của một tờ báo địa phương có tên gọi Times-Picayune được đặt tạm trong một ngôi nhà nhỏ xây theo lối truyền thống miền nam Hoa Kỳ cũng chỉ vừa mới ráo nước. Chỉ có một nhóm nhỏ phóng viên ở đây, có cả biên tập viên thể thao và nhà phê bình nghệ thuật, những người này đã trở lại trung tâm thành phố vào  đỉnh điểm của cơn bão và ở lại suốt từ đó, họ chạy máy phát điện bằng xăng cả ngày để chuyển tải tin tức và hình ảnh cập nhật mới nhất về cho tòa báo của mình.

Cùng lúc đó những đồng nghiệp khác của họ đang dựng lên một phòng đưa tin dã chiến ngay trong một khu mua sắm ở vùng ngoại ô Baton Rouge. Cánh phóng viên đã giúp truyền tải thông tin quan trọng đến những người dân đang di tản, thông báo cho toàn thế giới biết về nỗi đau đớn, tuyệt vọng của cả thành phố và những người tị nạn, cảnh báo người dân để đề phòng tội phạm trong tình trạng hỗn loạn, cũng như giúp liên kết những người sống sót với gia đình và bạn bè họ trong khu vực vùng vịnh Gulf Coast.

Tôi sống và làm việc cho một đài phát thanh cộng đồng ở New Orleans. Sứ mệnh của tôi là phải đưa mọi tin tức ở New Orleans đến với thế giới, từ những sự kiện hấp dẫn, phức tạp, những tin tức vui vẻ ngất ngây đến cả những bi kịch đau thấu lòng người.

Siêu bão Katrina đã khiến tôi ngộ ra những thế mạnh và thiếu sót của bản thân trong vai trò là một nhà báo. Khi các bờ đê vỡ, nước lũ tấn công thành phố, tôi đang sống và làm việc tự do ở New Orleans. Căn hộ của tôi may mắn không tổn hại gì nhiều, tôi lại không có chồng con gì để phải lo lắng. Tôi quay trở lại những địa điểm thiệt hại nặng nề nhất chỉ vì quyết tâm muốn đưa tin về việc di tản dân cư, tái thiết thành phố và về những ca phục hồi chấn thương tinh thần sau trận bão.

Tuy nhiên, tôi cảm thấy mình như bị tê liệt vào những ngày sau đó. Ý tưởng dựng bài vở luôn đến với tôi vô cùng dễ dàng, nhưng tôi gần như mất đi khả năng kết nối những mạch ý tưởng này lại với nhau để viết thành bài hoàn chỉnh. Chẳng hạn như trong một cuộc thảo luận với biên tập viên về một chiếc xe buýt vỡ nát ngay gần khu căn hộ tôi đang ở. Chiếc xe buýt rỉ sét đã nằm đó từ tuần này qua tuần khác.

Dường như một số thanh thiếu niên đã trưng dụng nó để cố gắng đưa mọi người ra khỏi thành phố bị ngập nước, nhưng họ đã làm hỏng nó. Tôi đắn đo ướm lời để viết một câu chuyện về chuyến xe này, về những người từng ngồi trên đó. Tuy nhiên, câu trả lời mà tôi nhận được là: "Đó không phải là những thông tin mà chúng ta đang cần".

Tôi đã phải mất đến tận nửa năm để tìm được tiếng nói của riêng mình và bắt đầu lại công việc. Sau khi tôi thú nhận với các biên tập viên về tình trạng này và nói rằng tôi cần một lối thoát, họ đã cho tôi rất nhiều ý tưởng.

Điểm mấu chốt chính là phải kiên nhẫn. Những nhân vật tôi nhắm đến để thực hiện phỏng vấn thường đã chuyển chỗ ở hoặc vẫn chưa bình tâm lại sau trận lũ lớn, hầu hết đều hủy hẹn hoặc hồi lại nhiều lần. Các nhân viên chính phủ thì hiếm khi đồng ý hẹn phỏng vấn, tôi đã phải bám theo họ đến nhiều chỗ họ xuất hiện công khai. Bù lại, tôi có lợi thế về thời gian do không phải mất thời gian bay hay đi xe từ xa đến đây.

Tôi có thể tận dụng thời gian để viết, tránh sa đà vào những bài tường thuật dài dòng đơn điệu mà đào sâu khai thác nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề. Thời gian là một phương thuốc hiệu nghiệm giúp chữa lành những chấn động trong tôi, tôi đã lấy lại sức mạnh để trở về thành phố sau nhiều năm xa cách. Lần này nhiệm vụ của tôi là xây dựng một kế hoạch lâu dài cho New Orleans để phục vụ khán giả địa phương.

Tôi cảm thấy hạnh phúc khi được đưa tin tại đây và kể những câu chuyện dài về thành phố xinh đẹp này. Tôi đã có thể cải tạo lại không gian sống của riêng mình và lập gia đình tại đây. Từ đó tôi đặt ra những giới hạn lành mạnh hơn cho mình ở New Orleans và có thể cảm nhận bản lĩnh của mình ở đây đã mạnh mẽ hơn nhiều so với tôi của một thập kỷ trước.

Debbie Fleming Caffery, nhiếp ảnh gia

Trạng thái đầu tiên xuất hiện trong tôi là cảm giác giận dữ khi chứng kiến hàng trăm người dân sơ tán xếp hàng dài trên sân bêtông nóng rực để đợi đi qua máy dò kim loại. Nhiều người đã được vớt lên từ sân vận động Superdome hay ngoài đường cao tốc, hầu hết họ đã bị mắc kẹt ở đó mà không có thức ăn và nước uống. Tôi không tin được tôi đang ở nước Mỹ. Tôi có cảm giác choáng váng bởi chính phủ thiếu sự chuẩn bị cho một thảm họa tự nhiên có sức tàn phá khủng khiếp đến như vậy.

Ảnh của Debbie Fleming Caffery chụp vùng Lower Ninth vào một ngày giông bão tháng 8-2006, một năm sau khi siêu bão Katrina đổ bộ vào đất liền.
Ảnh của Debbie Fleming Caffery chụp vùng Lower Ninth vào một ngày giông bão tháng 8-2006, một năm sau khi siêu bão Katrina đổ bộ vào đất liền.

Tôi bắt đầu trò chuyện cùng một vài người đã được vào bên trong và đang tập hợp dưới các mái hiên. Nhưng phải mất một lúc sau tôi mới bắt đầu chụp hình được, tôi phần nào bị sốc, chỉ có thể lắng nghe và cố gắng an ủi những người xung quanh tôi. Nỗi buồn và đau thương bao trùm lấy bầu không khí nơi đây, tôi đã mất vài ngày mới có thể bắt đầu làm việc như bình thường.

Từ đó, trong hơn một năm, tôi ghi nhận các hậu quả của cơn bão Katrina. Chính phủ thiếu sự quan tâm và hầu như không có khả năng hỗ trợ cho tất cả những người nghèo trong suốt giai đoạn cơn bão Katrina xảy ra và trong khoảng thời gian sau đó. Một điểm tích cực nhất trong giai đoạn này là các tình nguyện viên từ vùng quê Louisiana và trên khắp Hoa Kỳ đã có mặt để giúp đỡ phân phát thực phẩm, quần áo và tiền bạc. Sau đó chính những người này cũng giúp xây dựng lại nhà cửa cho nhiều người sơ tán.

Tôi không bao giờ quên được những người trú ẩn ở Trung tâm Tạm trú River đã ngạc nhiên và biết ơn đến thế nào khi tôi mang đến cho họ một cuốn tạp chí đăng toàn hình chân dung của họ. Tôi còn khám phá ra rằng những hình ảnh tôi chụp được sau siêu bão Katrina đã trở nên vô cùng quan trọng với một vài cư dân ở đây trong nhiều năm sau đó. Họ đã mất hết tất cả và không có cách nào để lưu giữ lại hình ảnh nhà cửa, khu vực lân cận và các nhà thờ. Đó là một lời nhắc nhở mạnh mẽ thúc đẩy chúng tôi gửi lại cho họ những hình ảnh chúng tôi đã "săn" được.

Mark Scheifsein, phóng viên chuyên đưa tin về bão và môi trường

Cuối cùng tôi đã có thể trở về nhà bốn tuần sau khi cơn bão Katrina đổ bộ, khi nước đã được bơm ra khỏi thành phố. Tôi bò qua cửa sổ vì cửa trước đã bịt kín lối đi. Giây phút đầu tiên tôi đặt chân vào bên trong nhà cũng là lúc tôi nhận ra mình đã trắng tay. Toàn bộ đồ đạc trong nhà bị phủ một lớp bùn sình mặc dù nơi tôi ở cách hồ nước khá xa.

Trong lúc lên kế hoạch thực hiện một phóng sự về nỗ lực tái thiết thành phố, tôi nhận ra tình trạng kiệt sức đến chán nản ở người dân địa phương khi họ đang cố gắng, từng người một trèo qua bức tường quan liêu cao vợi để đòi bồi thường bảo hiểm.

Cũng ngần ấy người nổi giận bởi cảm giác bị chính phủ bỏ rơi. Tại khu vực Lower Ninth Ward nơi tầng lớp lao động chủ yếu là dân da màu, hay ở Pontchartrain Park và phía đông New Orleans, tôi cũng đều cảm thấy như thể tôi đang chứng kiến một cuộc thanh trừng kinh tế. Nhà cầm quyền đã quyết định sử dụng cơn lũ như một cái cớ để thoát khỏi "những kẻ chẳng ai ưa"-thuật ngữ dùng để ám chỉ những người dân da đen nghèo.

Những người sống trong các dự án nhà ở không bị ngập lụt đều bị cưỡng bức di dời đi nơi khác. Bệnh viện từ thiện dù chỉ bị ngập tầng hầm nhưng cũng bị đóng cửa vì các quan chức liên bang, tiểu bang và địa phương đã quy hoạch khu vực này để xây dựng một khu phức hợp y tế hiện đại ngay giữa trung tâm thành phố. Khi họ đứng trước ống kính máy quay của tôi để giãi bày tình trạng của mình, tôi có cảm giác mình đang như một bác sĩ trị liệu tinh thần.

Tôi đặc biệt nhớ một nữ y tá, chồng của cô vừa được ghép thận vào ngày mà cơn bão đổ bộ vào đất liền. Cô đã bị mất việc giảng dạy tại một bệnh viện vài tuần sau đó, và hiện phải gánh vác gia đình với người chồng bị bệnh mãn tính, một người cha già mắc bệnh Alzheimer trong một thành phố mà điện đóm luôn chập chờn. Cô đã bật khóc khi cầu xin tôi giúp đỡ. Lúc đó, tôi cảm thấy như mình đang ghi lại hồi kết của giấc mơ Mỹ.

Trong nhiều chuyến đi về giữa New Orleans và New York suốt hai năm, tôi nhận ra các phương tiện truyền thông chính thống đã chuyển mối quan tâm của dư luận sang những chủ đề khác. Ở Manhattan, mọi người vẫn bận rộn với cuộc sống của riêng họ như thể chưa từng có một sự hủy diệt nào càn quét qua một thành phố lớn của nước Mỹ. Tôi trở nên cáu gắt, tự vấn bản thân sao mọi người lại không thấy gì bất thường.

Trong các lớp mà tôi đã dạy hàng tuần liền ở Trường Báo chí Columbia, tôi nhìn những gương mặt sinh viên quen thuộc mà phải rất chật vật tôi mới nhớ ra tên họ. Tôi gần như mất đi vốn từ vựng và trở nên xa cách với những người thân yêu. Phải mất một thời gian dài tôi mới dám đối mặt với sự thật rằng mình bị rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý. Tôi rút ra được một bài học rằng việc tác nghiệp ở một thành phố bị phá hủy gần 85% cũng tương tự phải làm việc ở một nước đang có chiến tranh.

Suốt ngày tôi ở những khu vực bị triệt phá hoàn toàn nên việc kiếm ra nước sạch cũng vô cùng khó khăn. Phải chuẩn bị sẵn bộ lọc nước và thức ăn tiếp tế đề phòng trường hợp không thể ngừng công việc giữa chừng. Điện thoại vệ tinh cũng hữu ích trong trường hợp này. Tôi lẽ ra nên đeo mặt nạ N95 mà Cơ quan Ứng cứu khẩn cấp liên bang (FEMA) khuyến nghị để đối phó với nấm mốc.

Tiến sĩ Joy Osofsky, nhà tâm lý học phát triển và tâm lý lâm sàng, Đại học bang Lousiana đưa ra nhận định: Ngay sau bất kỳ sự kiện chấn động nào các phóng viên cũng cần phải tự biết cách chăm sóc bản thân họ. Việc tác nghiệp với các chủ đề tin tức có khả năng gây chấn thương tâm lý, đặc biệt là khi đưa tin trên khía cạnh nhân đạo, có thể dẫn đến khả năng phóng viên bị quá tải, khiến tâm lý họ bị căng thẳng thêm một lần nữa, gián tiếp gây chấn thương và mệt mỏi.

Các phóng viên ảnh nói riêng thường gặp rủi ro cao vì họ phải làm việc độc lập hoặc ít được các đồng nghiệp và tổ chức hỗ trợ. Việc chứng kiến và nghe những tin tức chấn thương tâm lý nhiều lần cũng khiến bạn xuống tinh thần bất chấp bạn là người mạnh mẽ và từng trải.

Trong suốt thời gian cơn bão Katrina diễn ra, bài học quan trọng nhất mà chúng tôi học được đó là hầu hết mọi người đều yêu mến nơi họ sinh sống và mong muốn trở lại đó. Họ thể hiện sự mạnh mẽ và cho thấy khả năng phục hồi tinh thần phi thường.

Chúng tôi hiểu việc trò chuyện với các nạn nhân và những người sống sót sẽ giúp các câu chuyện đăng báo được phong phú và hoàn chỉnh hơn, nhưng các cuộc đối thoại này cũng có nguy cơ khiến họ cảm thấy tồi tệ hơn và đẩy những người này đến một giới hạn chịu đựng quá sức cho phép. May mắn là phần lớn các phóng viên sẵn lòng cố gắng tạo sự cân bằng để vẫn có những câu chuyện đủ hay nhưng đồng thời vẫn bảo vệ được sức khỏe và ổn định tâm lý cho nhân vật của mình.

Hiếu Thảo (tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.