Trò chuyện chủ nhật

Lương tối thiểu vẫn phải “rượt đuổi” mức sống tối thiểu

Đời sống của công nhân lao động hiện còn rất khó khăn. Điều 91, Bộ luật Lao động đã quy định, tiền lương tối thiểu phải đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

Luật đã có hiệu lực từ 2013, nhưng đến nay lộ trình để mức lương tối thiểu ngang bằng với mức sống tối thiểu vẫn chưa được xác định. Mỗi kỳ họp tăng lương, đại diện cho phía doanh nghiệp luôn “cò kè bớt một thêm hai”, khi đề xuất những mức tăng rất thấp.

Kỳ họp Hội đồng tiền lương Quốc gia vừa qua, trong khi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐVN) đề xuất mức tăng 13,3%, thì đại diện phía doanh nghiệp mặc dù không đưa ra con số cụ thể nhưng chỉ muốn tăng dưới 5%.

Chuyên mục “Trò chuyện Chủ nhật” tuần này đã có cuộc trao đổi với PGS. TS Vũ Quang Thọ, Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn xung quanh vấn đề này.     

PV: Trước khi bước vào kỳ họp Hội đồng tiền lương Quốc gia năm nay, Viện Công nhân và Công đoàn đã có những khảo sát đánh giá cụ thể thế nào về mức lương tối thiểu và đời sống của công nhân, người lao động hiện nay thưa ông?

PGS-TS Vũ Quang Thọ: Năm nào chúng tôi cũng khảo sát để cập nhật. Tại phiên họp hội đồng tiền lương dưới Hải Phòng, tôi đã nói rằng “Những thông tin tôi báo cáo với các quý vị đang rất nóng, sờ trên giấy vẫn còn nóng”.

Đây không phải là nói vu vơ mà là những con số thật, được khảo sát dưới nhiều góc độ: Thứ nhất là tác động của tiền lương tối thiểu từ 2016 sang 2017, có ảnh hưởng gì đến quỹ việc làm của các doanh nghiệp không, đến tốc độ sản xuất, đến lợi nhuận của các doanh nghiệp không, đến khả năng mở thêm các mặt hàng kinh doanh mới để cho số doanh nghiệp chẳng may bị ngừng sản xuất thì vẫn có số mới bù vào, quỹ việc làm vẫn tăng lên; thứ hai là đánh giá thực chất tiền lương tối thiểu có bảo đảm tăng thêm lợi ích cho người lao động không để người ta còn phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương tăng lương tối thiểu; thứ ba là khảo sát để biết rõ thực trạng của đời sống công nhân lao động hiện nay là như thế nào, trong đó bao gồm đời sống vật chất và đời sống tinh thần khi chúng ta thực hiện tăng thêm 7,3% lương tối thiểu năm 2017;

Thứ tư là khảo sát xem tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm của công nhân lao động họ có gì tiến bộ hơn sau khi tăng tiền lương tối thiểu; thứ năm là hỏi xem công nhân lao động họ phản ánh như thế nào về tình cảnh hiện nay họ đang sống trong các doanh nghiệp, sản xuất, sức ép của công việc đối với công nhân lao động ra sao, xu hướng các chủ doanh nghiệp muốn sa thải công nhân sẽ là như thế nào? Thêm nữa là tình trạng rẻ rúng, coi người người lao động của doanh nghiệp như thế nào?

PGS-TS Vũ Quang Thọ
PGS-TS Vũ Quang Thọ

PV: Cụ thể đời sống, tâm tư của công nhân hiện nay, qua khảo sát vừa rồi là như thế nào, thưa ông?

PGS-TS Vũ Quang Thọ: Chúng tôi đã có báo cáo trong Hội đồng tiền lương Quốc gia. Nói chung, nhìn tổng thể với hơn 5000 phiếu khảo sát đến tận tay công nhân ở các doanh nghiệp, các khu nhà trọ cả 3 miền Bắc, Trung, Nam thì chúng tôi thấy về cơ bản đời sống của công nhân lao động có tăng lên sau khi chúng ta điều chỉnh tiền lương tối thiểu. Cụ thể là số lương công nhân đủ chi tiêu và có một chút tích lũy tăng lên hơn những năm trước. Công nhân lao động cũng cảm thấy phấn chấn hơn. Nhiều công nhân lao động cũng trả lời họ sẽ tiếp tục còn gắn bó với doanh nghiệp.

Tuy nhiên tôi vẫn phải nhấn mạnh lại là đời sống công nhân lao động hiện nay vẫn đang rất khó khăn. Những công nhân có lương và thu nhập chưa đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (có nghĩa là có bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu), số này chiếm tới 60%.

Số có tích lũy một chút chiếm khoảng gần 10% với điều kiện cả 2 vợ chồng cùng làm công nhân lao động, chứ còn vợ ở nhà làm nông nghiệp, chồng làm công nhân hoặc ngược lại thì cũng chỉ đủ ăn, thậm chí thiếu. Còn lại khoảng 30% rơi vào hoàn cảnh thiếu thốn, lấy cái hôm nay đắp vào cái ngày mai mà vẫn còn thiếu (ăn và mặc không đủ đáp ứng yêu cầu tối thiểu).

Nếu chẳng may họ gặp phải rủi ro như ốm đau thì ngay lập tức gia đình công nhân rơi vào cảnh nghèo. Những đối tượng này rơi nhiều vào những doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp ở vùng sâu, miền núi. Chúng tôi đã đi khảo sát ở toàn bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam, rồi lên Tây Nguyên như: Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng.

PV: Tại cuộc họp Hội đồng tiền lương Quốc gia vừa diễn ra, Tổng LĐLĐVN đã đề xuất con số tăng 13,3%. Con số này dựa trên tiêu chí nào thưa ông?

PGS-TS Vũ Quang Thọ: Có 3 tiêu chí mà mỗi lần đề xuất tăng lương Viện Công nhân và Công đoàn là người tham mưu, Tổng LĐLĐVN là người phát ngôn. Tiêu chí thứ nhất là mức trượt giá của nền kinh tế mà người ta hay dùng từ viết tắt là CPI.

Tiêu chí thứ 2 là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế thể hiện ở tăng trưởng GDP, sở dĩ có tăng trưởng này là thành tích của công nhân phản ánh qua năng suất lao động. Cái này không phải chúng tôi phát minh ra mà là tiêu chí đánh giá của ILO (Tổ chức lao động quốc tế tại Hà Nội) đề xuất và được các bên đều thừa nhận.

Tiêu chí thứ 3 là khoảng cách thiếu hụt giữa tiền lương tối thiểu hiện ban hành và mức sống tối thiểu mà cả Viện và công nhân công đoàn cùng với Viện Dinh dưỡng Quốc gia khảo sát tính toán. Để đảm bảo mức sống tối thiểu có cả hàng hóa vật chất và phi vật chất. Hiện nay hàng hóa phi vật chất của công nhân lao động còn rất thấp kém, có thể nói là không có gì.

Trong 3 tiêu chí này thì CPI, GDP được Tổng cục Thống kê công bố và lấy con số đó. Còn chênh lệch giữa mức sống tối thiểu và lương tối thiểu, chúng tôi dựa trên con số đi khảo sát. Năm ngoái cả 3 bên cùng thống nhất là phần thiếu hụt của tiền lương tối thiểu so với nhu cầu sống tối thiểu là hơn 20%.

Chính phủ đã tăng lương tối thiểu 7,3%. Trừ 7,3% này đi thì còn lại là tỷ lệ mà Tổng LĐLĐVN đã đề xuất trong phiên họp vừa qua là 13,3%. Cái này là quyền lợi đáng được hưởng của người lao động. Trước hết họ phải đảm bảo mức sống tối thiểu đã rồi mới bàn đến chuyện năng suất, làm việc.

Cho nên người lao động được quyền đòi, và người thuê lao động phải trả lời và chấp nhận chuyện đó. Chính vì thế Tổng LĐLĐVN mới đề xuất mức đó. Đó là chưa tính CPI, GDP, nếu tính cả 2 yếu tố này vào thì mức tăng còn phải cao hơn.

PV: Trong cuộc họp vừa rồi, phía đại diện doanh nghiệp là VCCI chưa đưa ra con số cụ thể nhưng chỉ muốn tăng dưới 5%, ông đánh giá thế nào?

PGS-TS Vũ Quang Thọ: Tôi nói thật là tôi thất vọng ở con số VCCI đưa ra. Họ nói rằng, đời sống công nhân hiện nay rất khó khăn. Thứ hai họ nói tăng trưởng của doanh nghiệp là nhờ công nhân lao động. Công nhân lao động có phấn khởi, có tin tưởng, hăng hái làm việc thì chúng tôi mới có kết quả tăng trưởng này. Thế mà cuối cùng họ chỉ đưa ra con số quá thấp như thế. Tôi nói thật, ở trong cuộc họp tiền lương vừa rồi, phần lớn họ không muốn tăng. Họ đề nghị năm 2018 không tăng. Họ nói rằng 2- 3 năm nữa hãy tăng.

Sau đó dưới sức ép của phía Tổng LĐLĐVN họ nói rằng nếu có tăng thì tăng khoảng 3-4% thôi. Có chỗ thì nhích lên một chút khoảng 4-5%. Nói chung là dưới 5%.

Trong khi đó Tổ kỹ thuật của Hội đồng tiền lương Quốc gia đề nghị là khoảng trên 6%. Tôi đã nói luôn trong cuộc họp, kể cả 6% cũng vẫn là rất thấp.

PV: Doanh nghiệp họ nói rằng, tăng lương tối thiểu sẽ tạo áp lực cho doanh nghiệp và giảm việc làm?

PGS-TS Vũ Quang Thọ: Việc tăng lương dẫn đến giảm việc làm, hoặc có thể có những doanh nghiệp phải đình trệ sản xuất cũng là một nguy cơ mà Tổng LĐLĐVN phải tính đến.

Khẩu hiệu lớn nhất của Tổng LĐLĐVN hiện nay là bảo vệ việc làm cho công nhân lao động, thế nhưng bảo vệ việc làm mà để cho công nhân của mình đói, khổ thì việc làm không giải quyết được gì.

Ai có cơ hội cứ vào khu vực Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng thì sẽ thấy phần lớn công nhân ở các tỉnh đó, số công nhân đồng bào dân tộc chiếm khoảng 30%, họ cứ âm thầm làm việc suốt ca sản xuất. Ca sản xuất của họ không phải 8 giờ vàng ngọc như công chức đâu mà là 10 tiếng, 12 tiếng mà thu nhập chưa đến 4 triệu/tháng.

Đến mức độ họ phát biểu với chúng tôi rằng họ chẳng biết tính lương tăng hay không tăng thế nào nên đề nghị cứ chia hết ra xem mỗi ngày họ được bao nhiêu tiền. Thế có nghĩa là người lao động của chúng ta đang mong muốn quay trở lại thời sơ khai trước chủ nghĩa tư bản, tính theo lương giờ, lương ngày để họ cố gắng chắt bóp, chi tiêu sao cho không ăn lẹm vào tiền lương mà họ làm được.

Trực tiếp đi khảo sát đời sống của công nhân ở nhiều vùng, tôi đã nói với anh em trong Viện đi khảo sát cùng là không hiểu những người ngồi cò kè với người lao động từng cắc bạc một, họ hiểu gì về đời sống của công nhân.

PV: Với tình cảnh của công nhân như thế, theo ông mức tăng năm nay phải ở con số nào mới phù hợp?

PGS-TS Vũ Quang Thọ: Hiện nay phần thiếu hụt về tiền lương so với nhu cầu sống tối thiểu vào khoảng 13,3%. Như thế Tổng LĐLĐVN sẽ chấp nhận ở mức tăng 13,3% để năm 2018 là chúng ta giải quyết xong được lương tối thiểu bằng với nhu cầu sống tối thiểu. Sau khi bằng nhau rồi thì lúc đó Hội đồng tiền lương Quốc gia có thể 2 năm, 3 năm, thậm chí 4 năm họp một lần vẫn được vì chỉ cần xem xét 2 thông số là CPI và GDP.

Chúng tôi mong muốn như thế. Còn phương án 2 chúng tôi cũng không muốn đề xuất, tuy nhiên nếu phía đại diện doanh nghiệp vẫn khăng khăng bảo vệ quan điểm của mình, mà Chính phủ lại yêu cầu mức này mức kia thì Tổng LĐLĐVN chấp nhận kéo dài lộ trình điều chỉnh tiền lương một chút.

Nếu Chính phủ nói rằng đến 2020 mới hết thúc cuộc “rượt đuổi” giữa tiền lương và nhu cầu sống tối thiểu thì Tổng LĐLĐVN sẽ đề xuất giảm đi một chút, nhưng nếu như vẫn quyết định lộ trình năm 2018 kết thúc theo nghị quyết gần chục năm nay rồi thì Tổng LĐLĐVN vẫn giữ nguyên đề xuất 13,3%.

Điều 91 Bộ luật Lao động đã quy định tiền lương tối thiểu phải đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu, thì chúng ta phải thực hiện đúng theo luật rồi mọi việc mới tính tiếp. Thế nhưng Luật có hiệu lực 5 năm nay rồi mà đến nay lộ trình cũng còn chưa rõ thì không hợp lý.

PV: Xin cảm ơn ông!

Phan Hoạt (thực hiện)

Các tin khác

Cụ Huỳnh Thúc Kháng - tấm gương cao đẹp của bậc đại trí thức yêu nước, trọn đời vì Tổ quốc, vì nhân dân

Cụ Huỳnh Thúc Kháng - tấm gương cao đẹp của bậc đại trí thức yêu nước, trọn đời vì Tổ quốc, vì nhân dân

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết khẳng định, cuộc gặp gỡ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng là cuộc gặp gỡ của hai nhân cách lớn trên nền tảng chung: độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân; là biểu tượng sinh động của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và tinh thần trọng dụng hiền tài của Đảng...

Tự nguyện giao nộp 4 cá thể khỉ

Tự nguyện giao nộp 4 cá thể khỉ

Sau khi được lực lượng chức năng tuyên truyền, vận động về công tác bảo vệ động vật hoang dã, một người đàn ông ở xã Đam Rông 3 (Lâm Đồng) đã chủ động liên hệ, tự nguyện giao nộp 4 cá thể khỉ để cơ quan chức năng chăm sóc, xử lý theo quy định.

Hà Nội là trọng điểm ô nhiễm không khí, cần giải pháp kiểm soát liên vùng

Hà Nội là trọng điểm ô nhiễm không khí, cần giải pháp kiểm soát liên vùng

Ô nhiễm không khí đang là một trong những vấn đề môi trường đáng lo ngại tại Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, trong đó Hà Nội là trọng điểm. Nồng độ bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội ở mức cao, khoảng 1/3 số ngày trong năm vượt giới hạn trung bình 24 giờ, đòi hỏi các giải pháp kiểm soát nguồn thải và phối hợp liên vùng quyết liệt, đồng bộ.

Xuất hiện vết nứt dài hơn 1.000m, 34 hộ dân phải di dời

Xuất hiện vết nứt dài hơn 1.000m, 34 hộ dân phải di dời

Sau đợt mưa lớn kéo dài từ ngày 13 đến 19/9, khu vực đồi Na Lo, xã Đồng Lương, tỉnh Thanh Hóa xuất hiện hệ thống vết nứt kéo dài hơn 1.000m, nhiều điểm sụt lún sâu khoảng 1,5m, tiềm ẩn nguy cơ sạt trượt với khối lượng lớn, đe dọa an toàn của người dân và tuyến tỉnh lộ 530B.

Huế đảm bảo an toàn vùng hạ du gắn với sinh kế lâu dài của người dân

Huế đảm bảo an toàn vùng hạ du gắn với sinh kế lâu dài của người dân

Việc ứng dụng công nghệ số trong quan trắc, cảnh báo thiên tai nhằm góp phần đảm bảo an toàn cho địa bàn được xem là “rốn lũ” của miền Trung, nhất là bà con sinh sống vùng hạ du TP Huế. Song song với việc đảm bảo các công trình, chính quyền TP Huế yêu cầu các chủ hồ chứa thủy điện, thủy lợi và các đơn vị liên quan phải đảm bảo sinh kế lâu dài của người dân.

Vùng Tây Đà Nẵng ứng phó sạt lở gây chia cắt, cô lập trong mưa lũ

Vùng Tây Đà Nẵng ứng phó sạt lở gây chia cắt, cô lập trong mưa lũ

Miền núi phía Tây TP Đà Nẵng sở hữu địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh và luôn tiềm ẩn nguy cơ sạt lở mỗi mùa mưa lũ đến. Trước thử thách khắc nghiệt của thiên tai, các lực lượng chức năng, trong đó lực lượng Công an cơ sở đóng vai trò nòng cốt, xung kích tuyến đầu đã cùng cấp ủy, chính quyền các địa phương không lơ là, chủ quan, thực hiện phương châm “4 tại chỗ” và chuẩn bị sẵn sàng các phương án ứng phó ở mức cao nhất nhằm bảo vệ tuyệt đối an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân.

Bài cuối: Hạ tầng giao thông định hình lại không gian phát triển đô thị

Bài cuối: Hạ tầng giao thông định hình lại không gian phát triển đô thị

Kết quả thu hút đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông trọng điểm của TP Hồ Chí Minh thời gian gần đây không chỉ được kỳ vọng sẽ giải quyết cơ bản vấn đề ùn tắc giao thông đô thị cả trong khu vực nội đô và các khu vực cửa ngõ, mà còn kết nối liên vùng thúc đẩy phát triển khu vực. Các công trình hạ tầng giao thông chiến lược đang được xây dựng còn hứa hẹn sẽ định hình lại không gian phát triển cho siêu đô thị TP Hồ Chí Minh…

Lâm Đồng hoàn thành vượt tiến độ lấy mẫu hài cốt liệt sĩ để giám định ADN

Lâm Đồng hoàn thành vượt tiến độ lấy mẫu hài cốt liệt sĩ để giám định ADN

Hoàn thành vượt tiến độ việc lấy mẫu hài cốt liệt sĩ để giám định ADN là kết quả quan trọng trong giai đoạn 1 của Chiến dịch “500 ngày đêm” tại Lâm Đồng. Bước sang giai đoạn 2, Ban Chỉ đạo 515 tỉnh tiếp tục huy động các cấp, các ngành và nhân dân cung cấp thông tin, nhất là những nhân chứng từng tham gia chiến đấu, nhằm mở rộng phạm vi tìm kiếm, quy tập các phần mộ liệt sĩ còn nằm lại trên địa bàn.

Chàng trai 14 năm "giữ hồn" gốm Nam Bộ độc đáo

Chàng trai 14 năm "giữ hồn" gốm Nam Bộ độc đáo

Hơn 14 năm miệt mài sưu tầm, chàng trai ở Cà Mau hiện lưu giữ hơn 10.000 hiện vật gốm Nam Bộ xưa. Trong đó có những hiện vật tuổi đời hơn 100 năm. Với anh, mỗi chiếc chén (bát), bình trà hay cặp voi gốm không chỉ là món đồ cũ, mà còn lưu giữ những câu chuyện về đời sống, văn hóa của người dân Nam Bộ qua nhiều thế hệ.