Lịch sử của máy tính trong chiến tranh Việt Nam

Tháng 8-1965, hai tháng sau khi những người lính viễn chinh Mỹ đầu tiên đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược bằng quân sự trong chiến tranh Việt Nam thì 12 chuyên gia máy tính của Hãng IBM cũng có mặt.

Họ hoạt động dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (MACV). Gần 55 năm sau, khi hồ sơ về sự tham chiến của máy tính được giải mật, người ta mới biết tường tận về đơn vị này…

Những nền tảng ban đầu

Theo hồ sơ đã được giải mật, từ tháng 8-1965 đến tháng 1-1973, có tổng cộng 250 chuyên gia của Hãng máy tính IBM (International Business Machines) làm việc trong lĩnh vực quân sự tại miền Nam Việt Nam. 

Tất cả đều là những người tình nguyện, một số do lương bổng hấp dẫn, số khác muốn có cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp và cũng không ít người sang Việt Nam vì tò mò! Hầu hết những chuyên gia này đều dưới 30 tuổi, đã tốt nghiệp Học viện Công nghệ M.I.T (Massachusetts Institute of Technology).

Khi ấy, một trong những điều kiện bắt buộc nếu muốn sang Việt Nam là vẫn còn độc thân, không nghiện rượu và dĩ nhiên là không dính đến ma túy. Lúc đặt chân đến Sài Gòn, họ được bố trí ở trong những căn nhà biệt lập, nằm xung quanh trụ sở IBM tại số 115 đường Minh Mạng (nay là đường Ngô Gia Tự, quận 10 TP. HCM). 

Họ được cấp một tấm thẻ đặc biệt để ra vào, đồng thời được miễn trừ sự kiểm tra giấy tờ cá nhân của Quân cảnh Mỹ (Military Police - M.P) nếu bị nghi ngờ là lính đào ngũ. 

Ngoài ra, còn có một trụ sở dự phòng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, quận Bình Thạnh TP. HCM). Ở cả 2 nơi này, hệ thống máy lạnh hoạt động 24/24 giờ và không bao giờ bị mất điện vì luôn có 2 máy phát điện, sẵn sàng tái lập nguồn điện chỉ khoảng 3 giây nếu lưới điện Sài Gòn trục trặc.

Một chiếc Lockheed OP-2E thu tín hiệu từ “cây nhiệt đới” rồi chuyển về mạng máy tính IBM 360/65 ở Thái Lan.
Một chiếc Lockheed OP-2E thu tín hiệu từ “cây nhiệt đới” rồi chuyển về mạng máy tính IBM 360/65 ở Thái Lan.

Sự xuất hiện của những chuyên gia máy tính tại miền Nam Việt Nam nằm trong một hợp đồng được ký kết giữa Bộ Quốc phòng Mỹ và Hãng IBM, trị giá 257 triệu USD, sau tăng lên 324,5 triệu USD vào năm 1968. 

Một trong những mục tiêu của IBM lúc ấy là nghiên cứu hoàn thiện hệ thống định vị của máy bay B-52 thuộc Tập đoàn Không quân chiến lược số 5 khi ném bom rải thảm xuống các vị trí nghi ngờ có sự hoạt động của Quân Giải phóng. 

Cho đến năm 1968, mạng lưới máy tính phục vụ chiến tranh của quân đội Mỹ đã được triển khai ở Long Bình - Biên Hòa, Cam Ranh - Nha Trang, Quy Nhơn và Đà Nẵng cùng nhiều nơi khác. 

Với chủ trương “điện tử hóa” cuộc chiến do Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara khởi xướng, hàng chục máy tính siêu mạnh thời điểm đó đã được chuyển đến miền Nam Việt Nam, từ hệ thống Seek Data II, PIACCS và Igloo White lắp đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa, căn cứ hải quân Cam Ranh, sân bay Đà Nẵng, đến hệ thống máy tính AUTODIN đặt tại trụ sở Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) ở Sài Gòn. 

Tuy nhiên quan trọng nhất là mạng máy tính Collins SSB, có thể gửi, nhận thông tin trên khắp miền Nam Việt Nam, đến Thái Lan và Philippines. Nó hoạt động liên tục 24/24 giờ nên các chuyên gia IBM cũng phải chia ca làm việc theo suốt 7 ngày trong tuần. Collins SSB hữu hiệu đến nỗi khi hệ thống máy tính của Không quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị hỏng, họ đã phải nhờ đến nó.

Có thể nói, chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên mà người Mỹ áp dụng phương pháp xử lý dữ liệu trong tất cả các bộ phận thuộc quân đội Mỹ. Bên cạnh việc huấn luyện lính Mỹ, chuyên gia IBM còn huấn luyện quân đội Sài Gòn cách sử dụng. 

Ngôn ngữ lập trình lúc ấy là COBOL, FORTRAN, PL/1 chạy trên hệ điều hành Operating System360, nằm trong một hệ thống được gọi chung là PIACCS (Pacific Interim Air Force Command and Control system - Hệ thống quản lý và chỉ huy không quân chuyển tiếp Thái Bình Dương) cùng Seek Data II, là công cụ tối quan trọng điều khiển chiến tranh. Ban đầu, bộ vi xử lý của máy tính chỉ là 1401 hoặc 1460 nhưng sau đó, nó được nâng cấp lên S/360 Model 40.

Chuyên gia IBM và máy tính S/360-50 tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa.
Chuyên gia IBM và máy tính S/360-50 tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa.

Nhiệm vụ của mạng máy tính

Khi đi vào hoạt động, bộ chỉ huy của các đơn vị lính Mỹ trong các cuộc hành quân sẽ gửi kế hoạch tác chiến qua hệ thống máy tính PIACCS đến một căn cứ không quân cụ thể - chẳng hạn như Bộ Tư lệnh Không quân chiến thuật số 7 ở sân bay Tân Sơn Nhất. 

Kế hoạch tác chiến này bao gồm thời gian và địa điểm tấn công, thông tin về mục tiêu, yêu cầu về xăng, xe, lương thực, đạn dược, y tế…, số lượng và chủng loại máy bay cần được yểm trợ. Kế hoạch ấy sẽ lưu lại trong máy tính và được điều chỉnh dựa trên thông tin tình báo về quân số, trang bị vũ khí và hướng tấn công, phòng thủ của đối phương.

Về phía không quân Mỹ, sau khi đã thực hiện mọi yêu cầu của các đơn vị trực tiếp tham gia chiến đấu, thông qua mạng máy tính CREST, không quân Mỹ gửi về Bộ Tư lệnh Không quân chiến thuật số 7 ở sân bay Tân Sơn Nhất bản báo cáo chiến sự. 

Báo cáo ấy sẽ được hệ thống máy tính PIACCS chuyển đến trung tâm xử lý tại căn cứ không quân Hickam, bang Hawaii rồi được tổng hợp thành một báo cáo chung, trình lên chỉ huy cao cấp nhất để làm cơ sở cho những cuộc yểm trợ tiếp theo.

Với mạng máy tính Seek Data II, nhiệm vụ của nó là quản lý không vận. Các chuyên gia điều khiển nó chịu trách nhiệm lập kế hoạch vận chuyển người và trang thiết bị đến tất cả mọi nơi ở miền Nam Việt Nam, kể cả Lào và Campuchia. 

Lấy thí dụ như đơn vị phòng thủ Khe Sanh yêu cầu tăng viện thêm 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thì ngay lập tức, yêu cầu này được máy tính Seek Data II gửi đến máy tính S/360-50 của MACV. Tại đây, MACV sẽ quyết định điều động tiểu đoàn nào thuộc Sư đoàn Lính thủy đánh bộ và đơn vị không quân nào sẽ phụ trách vận chuyển lính đến Khe Sanh. 

Sau đó mệnh lệnh của MACV được gửi đến các bên liên quan. Vì thế mà tướng William Westmoreland, Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã nói: “Chỉ mất 40 phút, chúng tôi có thể điều động 1 tiểu đoàn với đầy đủ vũ khí, có mặt ở sân bay rồi mất thêm 1 hoặc 3 tiếng nữa tùy theo từng vị trí, tiểu đoàn này sẽ đến nơi cần đến…”.

Đầu năm 1967, nhằm triển khai cuộc “chiến tranh điện tử”, cùng với việc xây dựng “hàng rào điện tử McNamara” dọc theo vĩ tuyến 17 phân chia 2 miền Nam, Bắc Việt Nam, MACV ra lệnh cho hàng chục máy bay vận tải quân sự C-47, C-123 và C130 thả hàng nghìn thiết bị - thường được gọi là “cây nhiệt đới” - xuống các khu rừng nơi có đường mòn Hồ Chí Minh. 

Thiết bị này làm bằng thép, ngụy trang như một cành cây nhỏ với đầy đủ thân, lá, bên trong chứa bộ cảm biến ghi nhận tiếng động tạo ra do bước chân con người, thân nhiệt con người và nhiệt độ phát ra từ động cơ xe hơi, xe tăng. 

Khi nhận được những thông tin ấy, bộ cảm biến sẽ truyền tín hiệu thông qua máy bay trinh sát Lockheed OP-2E luôn có mặt 24/24 giờ trên trời, đến hệ thống máy tính IBM 360/65, đặt tại một căn cứ quân sự Mỹ ở Nakhon Phanom, đông bắc Thái Lan. 

Tiến hành phân tích, máy tính IBM 360/65 sẽ cho biết đó là con người, số lượng bao nhiêu hay chỉ là thú rừng. Với các phương tiện cơ giới cũng thế, IBM 360/65 sẽ chỉ rõ đó là loại xe nào, chở theo hàng hóa hay chạy không tải… Từ đó, Không quân Mỹ hoặc sẽ cho B-52 ném bom hủy diệt, hoặc chỉ sử sụng loại máy bay oanh tạc thông thường.

Đài radar Phú Lâm trước ngày bị Quân giải phóng tập kích.
Đài radar Phú Lâm trước ngày bị Quân giải phóng tập kích.

Nhưng không thể hơn được con người

Sau một thời gian hoạt động, mạng máy tính mạnh nhất thời ấy của quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam bắt đầu bộc lộ những nhược điểm. Đã xảy ra nhiều vụ “quân ta ném bom quân mình” hoặc những cuộc bắn phá vào các làng mạc, nơi chỉ có thường dân vô tội. 

Marshall Harrison, năm 1969 là phi công lái máy bay trinh sát tầm thấp OV-10 Bronco, làm nhiệm vụ chỉ điểm mục tiêu cho máy bay ném bom nói: “Máy tính do con người tạo ra nên nó hoạt động theo sự chỉ dẫn của con người. Nếu sự chỉ dẫn ấy sai, phương án mà nó đưa ra để xử lý tình huống cũng sẽ sai. Lấy thí dụ “cây nhiệt đới”  chẳng hạn, bộ cảm biến không thể phân biệt những dấu vết trên một con đường mòn, đâu là do tác động của thiên nhiên, đâu là do con người. Nếu các chuyên gia máy tính tin rằng những dấu hiệu do bộ cảm biến cung cấp là của con người thì kế hoạch ném bom, bắn phá lập ra bởi máy tính sẽ chẳng bao giờ mang lại kết quả”.

Làm việc trong môi trường được xem là an toàn nhưng những chuyên gia của IBM  không ít lần rơi vào tình thế nguy hiểm. Không lâu sau cuộc tổng tiến công, nổi dậy Tết Mậu Thân của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Bob và Jerry là hai chuyên gia phần cứng đã suýt thiệt mạng. 

Hôm đó, cả hai làm việc đến khuya rồi ngủ lại ở Trạm chuyển phát thông tin Phú Lâm (thường được gọi là Đài radar Phú Lâm, nay thuộc quận 6 TP. Hồ Chí Minh). Đến nửa đêm, họ choàng tỉnh bởi từng loạt tiếng nổ của súng chống tăng B-40 và tiểu liên AK-47. Bob hét gọi Jerry: “Ra khỏi đây nhanh!”.

Giây lát, cả hai lao ra khỏi phòng ngủ rồi chui xuống một giao thông hào. Bob kể: “Tôi thấy nhiều người cầm súng nhảy qua hào, họ hét bằng tiếng Việt “xung phong”. 

Chỉ đến sáng, khi quân cứu viện xuất hiện với xe tăng, xe bọc thép và trực thăng vũ trang, Bob cùng Jerry mới biết đêm hôm trước, một đơn vị đặc công Quân Giải phóng đã tập kích vào khu vực đặt máy tính trong Đài radar Phú Lâm, phá hủy nhiều thiết bị quan trọng. 

Cassidy, nhân viên IBM khác kể thêm: “Hôm đó, tôi nhận được điện thoại từ một trung úy thuộc Sư đoàn 25 Tia chớp nhiệt đới ở Củ Chi. Anh ấy nhờ tôi sửa chiếc máy tính 407. 

Lúc đó trời đã xế chiều nên tôi ngần ngừ nhưng anh ấy van nài. “Không, anh phải đến ngay. Sẽ có một trực thăng chờ anh ở Đệ Nhất khách sạn (thuộc quận Tân Bình). Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho anh tối nay”.

Sau một hồi giằng co, cuối cùng Cassidy quyết định sáng mai mới đi. Đêm hôm ấy, Quân Giải phóng tấn công căn cứ Củ Chi. Toàn bộ máy tính bị bắn nát và viên trung úy, người đã nài nỉ Cassidy xuống sửa máy tính trúng đạn chết. 

Jack, cũng là chuyên gia của IBI thì rơi vào tình trạng dở khóc dở cười. Một hôm anh ta được yêu cầu đến sửa chiếc máy tính trên một tàu hải quân Mỹ neo tại cảng Sài Gòn. Công việc tưởng đơn giản nhưng cuối cùng lại kéo dài và con tàu rời cảng mà thuyền trưởng quên không thông báo cho Jack. 

Thế là chuyên gia này kết thúc hành trình tại vịnh Subic, Philippines, trong túi chẳng  có giấy thông hành lẫn tiền bạc. Cuối cùng, Jack phải đi nhờ máy bay quân sự đến Đà Nẵng rồi chuyển sang một máy bay nữa về Sài Gòn.

Đầu năm 1970, người Mỹ triển khai chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhiệm vụ của các chuyên gia IBM dần thu hẹp. Một số máy tính được chuyển cho quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong đó loại máy tính S/360 Model 50 đặt tại trụ sở MACV được Sài Gòn mua lại (có 2 chiếc 360/50 vẫn còn ở Sài Gòn sau ngày giải phóng).

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris ký kết. 60 ngày sau, văn phòng IBM ở số 115 đường Minh Mạng đóng cửa. Trừ một người tình nguyện ở lại thêm vài tháng nhằm hoàn thiện bộ gõ và in tiếng Việt để Bộ Giáo dục Sài Gòn tổ chức chấm thi tốt nghiệp trung học phổ thông (hay còn gọi là thi tú tài IBM) tổ chức vào năm 1973, còn thì toàn bộ nhân viên IBM được lệnh thu xếp về nước. Lịch sử tham chiến của IBM tại miền Nam Việt Nam chấm dứt.

Vũ Cao (Theo History - IBM in Vietnam War)

Các tin khác

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.

Giải mã bí ẩn bức điêu khắc tại trụ sở CIA

Giải mã bí ẩn bức điêu khắc tại trụ sở CIA

Năm 1990, một tác phẩm điêu khắc bí ẩn được dựng lên trong khuôn viên của CIA tại Langley, bang Virginia. Công trình này gồm những tấm đồng khổng lồ được khắc các thông điệp mã hóa mà gần một thập kỷ không ai có thể giải được. Bước đột phá diễn ra ngay trước thềm thiên niên kỷ mới - 3 trong số 4 đoạn văn bản đã được giải mã, nhưng đoạn văn bản thứ 4 mà các chuyên gia coi là chìa khóa để hiểu nội dung toàn bộ tác phẩm, cho đến nay vẫn được giữ bí mật.

Hải quân mỹ trả giá vì sai lầm tình báo

Hải quân mỹ trả giá vì sai lầm tình báo

Ngày 24/4/1945, tàu ngầm U-546 của Đức Quốc xã đã bị đánh chìm trên Đại Tây dương, khiến toàn bộ thủy thủ đoàn bị bắt làm tù binh. Trong quá trình thẩm vấn, họ bị ép trả lời câu hỏi: cuộc tấn công tên lửa của Đức vào lãnh thổ Hoa Kỳ sẽ diễn ra vào lúc nào? Tuy nhiên, các tù binh Đức không thể cung cấp những thông tin được yêu cầu, bởi kế hoạch tấn công tên lửa vào Mỹ chỉ tồn tại trong suy nghĩ của các điệp viên Mỹ.

Thiếu tướng Lê Tiền: Người anh hùng thầm lặng giữa lòng miền Nam kháng chiến

Thiếu tướng Lê Tiền: Người anh hùng thầm lặng giữa lòng miền Nam kháng chiến

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy cam go của dân tộc, có những trận đánh hiển hách được ghi vào sử sách, nhưng cũng có những "trận tuyến thầm lặng" đầy quyết liệt và hiểm nguy. Thiếu tướng Lê Tiền (tên thân mật là Hai Tiền), nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, với quá trình hoạt động cách mạng và công tác an ninh phong phú chính là biểu tượng của chiến sĩ an ninh trên trận tuyến ấy. Trải qua hơn 50 năm hoạt động cách mạng, ông đã dành trọn những năm tháng thanh xuân gắn bó với mảnh đất phương Nam, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Nhóm tình báo “Đô đốc” thu thập thông tin mật từ Quốc vương Thụy Điển

Nhóm tình báo “Đô đốc” thu thập thông tin mật từ Quốc vương Thụy Điển

Trong lịch sử tình báo quân sự Nga và Liên Xô, đại tá hải quân Vladimir Stashevsky là một trường hợp đặc biệt. Từng đứng đầu mạng lưới tình báo tại Bắc Âu trong Thế chiến I, ông lại trở thành điệp viên nằm vùng trong Thế chiến II. Sau Cách mạng Tháng 10, giới lưu vong coi ông là người thân Liên Xô, còn chính quyền Xô viết lại nghi ngờ lòng trung thành của ông, vì ông vốn là một sĩ quan Nga hoàng. Bất chấp mọi ngờ vực và biến động, Stashevsky vẫn tiếp tục phục vụ Tổ quốc.

Lặng lẽ chiến dịch Cyber Guardian

Lặng lẽ chiến dịch Cyber Guardian

Ngày 18/7/2025, Bộ trưởng Điều phối An ninh quốc gia Singapore K. Shanmugam lần đầu công khai xác nhận UNC3886, một nhóm tấn công mạng tinh vi, đang nhắm vào hạ tầng trọng yếu của đảo quốc.

Giải mật hồ sơ tình báo 2017 chấn động nước Mỹ

Giải mật hồ sơ tình báo 2017 chấn động nước Mỹ

Cuộc rà soát mới của FBI đối với một số cựu và đương nhiệm sĩ quan CIA đang kéo trở lại tâm điểm một hồ sơ tình báo từng gây tranh luận kéo dài suốt nhiều năm ở Washington: bản đánh giá liên ngành công bố đầu năm 2017 về can thiệp bầu cử Mỹ.

Ukraine thử nghiệm nền tảng AI hỗ trợ tác chiến

Ukraine thử nghiệm nền tảng AI hỗ trợ tác chiến

CEO Palantir Alex Karp tiết lộ Ukraine đang sử dụng các nền tảng AI của công ty để phân tích dữ liệu chiến trường theo thời gian thực, qua đó thay đổi cách người lính phát hiện mục tiêu, xử lý thông tin và tiến hành tác chiến trong chiến tranh hiện đại.

Những đặc điểm chung của các điệp viên Anh hoạt động tại Nga

Những đặc điểm chung của các điệp viên Anh hoạt động tại Nga

Hành vi bất thường và thậm chí mang tính khiêu khích của một nhân viên đại sứ quán Anh đã thu hút sự chú ý của cơ quan An ninh Liên bang Nga (FSB). Kết quả là ông ta đã phải rời khỏi Nga vì bị cáo buộc sử dụng vỏ bọc ngoại giao để hoạt động gián điệp. Vậy, ông ta đã bị phát hiện như thế nào, đang tìm cách gặp ai, thu thập thông tin gì, và tại sao lại hành xử thiếu chuyên nghiệp như vậy?

Cuộc sống hiện tại của điệp viên Mỹ Edward Snowden

Cuộc sống hiện tại của điệp viên Mỹ Edward Snowden

Trong lịch sử thế kỷ XXI, hiếm có nhân vật nào tạo ra làn sóng dư luận mạnh mẽ như Edward Snowden. Với người này, anh là anh hùng đấu tranh vì tự do và quyền con người; với người khác, anh lại là kẻ phản bội tiết lộ bí mật quốc gia. Năm 2013, những tuyên bố gây chấn động của Snowden về chương trình giám sát toàn cầu của tình báo Mỹ đã làm rung chuyển thế giới. Bài viết giới thiệu về cuộc sống hiện tại của Snowden tại nước Nga.