Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

1. Là người con được sinh ra ở quê hương Bến Cầu (Tây Ninh), lớn lên giữa cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ của thực dân Pháp, Nguyễn Văn Phê sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và tham gia du kích địa phương khi mới 15 tuổi. Hiệp định Geneve về chấp dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết năm 1954, Nguyễn Văn Phê được tổ chức cho ở lại địa phương để tham gia đấu tranh chính trị, đòi thực thi Hiệp định Geneve, tổng tuyển cử thống nhất nước nhà.

z7778786468008_23dac03a2eeebf7319b01d856c6081a0.jpg -1
Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê.

Tháng 10/1958, Nguyễn Văn Phê được đưa về biên chế Đại đội 59 bộ đội địa phương tỉnh Tây Ninh. Thời điểm này, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ngang nhiên phá hoại Hiệp định Geneve, thi hành chính sách tàn bạo “tố cộng, diệt cộng”, ra đạo luật 10/59, thực hiện khẩu hiệu “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”.

Những cuộc khủng bố đẫm máu của Mỹ và chế độ tay sai Ngô Đình Diệm đã đẩy nhân dân ta đứng trước sự lựa chọn không thể khác được, đó là con đường tiếp tục đấu tranh. Để làm súng lệnh tiến công, châm ngòi cho phong trào Đồng Khởi toàn miền Nam, Xứ ủy Nam bộ quyết định tiêu diệt căn cứ Tua Hai. Đây là cứ điểm do Trung đoàn 32 (Sư đoàn 21) của địch chiếm giữ, đồng thời là kho dự trữ chiến lược quan trọng của địch. Lực lượng của ta tham gia trận đánh gồm Đại đội 59, Đại đội 60 và Đại đội 80 với tổng quân số khoảng 200 cán bộ, chiến sĩ.

“Khi đó tôi là Tiểu đội phó Tiểu đội 1, Trung đội 1, Đại đội 59, cùng với các đơn vị bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ tham gia đánh trận Tua Hai. Đây là trận đánh hiệp đồng giữa bộ đội chủ lực, địa phương, lực lượng nội ứng, đặc biệt là lực lượng dân công phục vụ chiến đấu. Lập công ở trận đánh Tua Hai, tôi được kết nạp vào Đảng và được cử đi học quân sự. Học xong, tôi được biên chế về Tiểu đoàn 500, tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu 7” -Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê kể về quá trình chiến đấu và trưởng thành của mình.

Tiểu đoàn 500 sau đổi phiên hiệu là Tiểu đoàn 800 hoạt động chủ yếu trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Cùng với việc giúp đỡ xây dựng, huấn luyện, phối hợp chiến đấu với các đơn vị vũ trang tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Phước Thành (sau này thuộc các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai cũ).

“Tiểu đoàn 800 tổ chức nhiều trận chiến đấu như, tiến công vào tỉnh lỵ  Phước Thành, phục kích Đường 13, đánh tiêu diệt đại đội biệt kích “Báo đen”, giúp lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt trong phong trào phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ Chiến khu Đ và các căn cứ, cơ sở cách mạng... Qua chiến đấu, tôi cũng như cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ ngày càng trưởng thành, lập nhiều chiến công. Từ cán bộ cấp trung đội, tôi được đề bạt làm đại đội trưởng, rồi tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 800”, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê nhớ lại những ngày tháng chiến đấu tại chiến trường miền Đông.

2.Năm 1965, Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông đã quyết định thành lập trung đoàn chủ lực đầu tiên của quân khu, lấy phiên hiệu là Trung đoàn Đồng Nai, sau này đổi tên thành Trung đoàn 4. Tiểu đoàn 800 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 1, biên chế thuộc Trung đoàn 4.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh ác liệt ở các căn cứ miền Đông Nam bộ, chiến sĩ Trung đoàn 4 đã mưu trí, dũng cảm, chiến đấu kiên cường, một trong những trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông phải kể đến trận Tầm Bó, tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, vẫn nhớ như in trận đánh mà ông cùng đội đã làm nên chiến thắng vẻ vang trước sư đoàn được mệnh danh là “Anh cả đỏ” của Mỹ.

Thời điểm những ngày đầu tháng 4/1966, máy bay địch đánh phá ác liệt vào khu vực Tầm Bó. Sau đó, một đại đội lính Mỹ tiến vào khu vực phòng ngự của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4 đang đóng quân. Trong cùng ngày, một đại đội khác tiến vào khu vực hậu cần, quân y của Tiểu đoàn 1. Những người lính của Tiểu đoàn đã chuẩn bị sẵn tinh thần và bình tĩnh chờ đợi, khi cách chiến hào khoảng 5m, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phê ra lệnh đồng loạt nổ súng.

Bị đánh bất ngờ, một số lính Mỹ bị loại, số khác tháo chạy, nhưng sau đó, chúng tổ chức lực lượng pháo binh, máy bay đến đánh phá, ném bom dữ dội. Cả rừng núi mịt mù trong lửa đạn. Nhiều tuyến hào, hầm bị đánh sập, nhưng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 4 vẫn kiên cường bám trụ chiến đấu. Với cách đánh chờ địch đến thật gần, các loại hỏa lực của ta đồng loạt nổ súng, bộ binh xuất kích đánh địch ngoài chiến hào, đánh giáp lá cà đẩy lùi quân địch, giữ vững trận địa. Trận đánh kết thúc, đơn vị giành thắng lợi giòn giã, loại khỏi vòng chiến đấu bộ phận lớn tiểu đoàn quân Mỹ thuộc Sư đoàn “Anh cả đỏ” và thu nhiều loại vũ khí.

“Các trận đánh khốc liệt và chiến thắng vẻ vang của chúng tôi với quân thù đều có sự tiếp sức của nhân dân. Những năm 1968-1970, địch bình định, bố ráp, người dân phải ăn khoai, củ mì, củ chuối, rau rừng nhưng vẫn dành lương thực, thực phẩm tiếp tế cho bộ đội. Không chỉ vậy, chúng tôi  được bà con nhân dân đốt đèn, lấy nước cho rửa mặt, may vá quần áo, che chở và bảo bọc, chúng tôi như người con của những người mẹ, người cha nông dân áo vải. Cả cuộc đời tôi không bao giờ quên ân tình sâu nặng ấy”, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê kể.

z7778786323912_54fc741d774db9e6c58bf74034cbead4.jpg -0
Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 800 sau một trận đánh năm 1961. (ảnh tư liệu)

Sau khi tham gia nhiều mặt trận ở miền Đông Nam bộ, năm 1972, đồng chí Nguyễn Văn Phê được cử ra Hà Nội học tập. Tháng 3/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn quyết định, người con của quê hương Nam Bộ được lệnh trở về chiến đấu. Ông được giao nhiệm vụ Sư đoàn phó Sư đoàn 6 (Quân khu miền Đông) cùng với đồng chí Đặng Ngọc Sỹ, là Sư đoàn trưởng (sau này là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 7), trong đội hình phối hợp của Quân đoàn 4 tiến công tuyến phòng thủ của địch ở Xuân Lộc.

Ngày 21/4/1975, Xuân Lộc và Long Khánh được giải phóng, mở toang “cánh cửa thép” ở hướng Đông cho các lực lượng của ta tiến vào Sài Gòn. Sư đoàn 6 tiến đánh trên trục đường 1, thị xã Biên Hòa, cùng Sư đoàn 341 chiếm các mục tiêu: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn không quân 5 và sân bay Biên Hòa.

“Chúng tôi đánh đến đâu, tiếp quản đến đó. Đêm đầu tiên canh gác ở sân bay Biên Hòa, tôi nhìn về phía Sài Gòn, đồng đội của tôi cũng đang hướng về đó. Trưa ngày 30/4, tin chiến thắng lan về khắp nơi. Hòa bình rồi. Chiến tranh đã kết thúc rồi. Đó như một giấc mơ đã thành hiện thực ngay trước mắt mình. Chúng tôi ngả mình trên thảm cỏ xanh, nhắm mắt lại và nhớ về những đồng đội đã hy sinh với tất cả nỗi khắc khoải” - Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê nhớ về khoảnh khắc Sài Gòn giải phóng 51 năm về trước. 

Đất nước hòa bình, ông trải qua nhiều cương vị công tác, năm 1990, ông được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Sông Bé (tỉnh Bình Dương cũ) và cùng năm đó được phong hàm Thiếu tướng và nghỉ hưu năm 1997. 

Trở về đời thường, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê luôn tận tâm làm công tác đền ơn đáp nghĩa, sống tiếp phần đời không chỉ của riêng mình, mà còn thay cho bao đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.  Ông luôn nhắc nhở mình, hòa bình là thành quả được đánh đổi bằng máu xương, nước mắt và biết bao mất mát không gì bù đắp nổi. 

Ngọc Thiện

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.