Hemingway và Murakami: Cuộc gặp gỡ không thể có

Thoạt qua, họ tưởng như rất khác nhau. Họ thuộc về hai thời đại khác nhau, hai nền văn hóa khác nhau. Khi Hemingway qua đời thì Haruki Murakami 12 tuổi.

Hemingway là biểu tượng của nam tính ở mức tối đa và là thứ nam tính nguyên sơ, nguyên thủy. Ông ham thích những cuộc phiêu lưu và những cuộc đi săn. Câu chuyện về ông già Santiago đánh nhau săn con cá kiếm và đánh nhau cùng bầy cá mập chắc chắn được lấy cảm hứng từ chính những chuyến săn oai hùng ngoài khơi Cuba mà Hemingway từng nếm trải.

Ông thậm chí từng săn đầu sư tử ở châu Phi. Và kể cả khi không "vào trong hoang dã" thì ông cũng phải đi săn những con bồ câu ở công viên, dường như không một phút giây nào Hemingway thôi hành động. Bởi thế mà cuộc đời Hemingway có gì đó phi thực, như một bản trường ca khó tin của một vị anh hùng. Ít nhất 5 lần ông thoát chết ngoạn mục, trong đó có 2 lần rơi máy bay liên tiếp và 1 lần dính 237 mảnh đạn trên người.

Haruki Murakami sống một cuộc đời khác xa. Nếu không phải ông viết văn thì dường như Murakami không có một đời sống phong phú giàu trải nghiệm như người ta thường tưởng tượng về những nhà văn.

Hemingway - thợ săn sư tử cừ khôi.
Hemingway - thợ săn sư tử cừ khôi.

"Tôi không trải qua chiến tranh như bố mẹ, hay phải chịu đựng tình cảnh hỗn loạn và con đói của thế hệ trước. Tôi không có kinh nghiệm gì về cách mạng (tôi có nếm trải một kiểu cách mạng nửa vời nhưng không muốn viết về nó) và cũng chưa gặp phải tình trạng bạo hành tàn bạo hay kỳ thị nào mà tôi nhớ được. Tôi lớn lên trong một gia đình trung lưu điển hình ở một cộng đồng ngoại ô yên bình, nơi tôi không thiếu thốn gì đặc biệt và dù không thể nói là hoàn hảo, đời tôi cũng không gặp phải bất hạnh gì (nói một cách tương đối, tôi nghĩ, tôi còn may mắn). Nói cách khác, tôi có một tuổi trẻ bình thường và không có gì đáng nói", Murakami tóm lại về cuộc đời không-sự-kiện-đáng-kể trong tiểu luận Vậy thì tôi nên viết gì đây?

Bạn cũng có thể nhìn thấy những khác biệt đó trong câu chuyện của hai tác giả. Một bên là thứ tiểu thuyết đặt trong bối cảnh thiên nhiên hoang dã, một bên là thứ tiểu thuyết thành thị ngập mùi sữa và bơ. Trong khi các nhân vật của Hemingway lao vào những cuộc chiến tranh, bị linh cẩu rình rập và tham gia những cuộc đấu bò tót thì nhân vật của Murakami nấu spaghetti, đọc tiểu thuyết và nghe nhạc cổ điển, đôi khi họ cũng rơi vào một cái giếng hay đi xuống nơi tận cùng thế giới nhưng đó chủ yếu là những cuộc phiêu lưu có hình thái của một giấc mơ.

Chính Murakami cũng nhắc tới Hemingway như đại diện cho một phong cách viết mà ông không thể noi theo, viết từ những trải nghiệm có thực, dù hâm mộ Mặt trời vẫn mọc và Giã từ vũ khí. "Ông cần những kích thích ngoại sinh ấy để viết. Kết quả là một cuộc đời huyền thoại...", Murakami bàn luận về Hemingway.

Nếu phải so giữa Hemingway và người bạn thân của đại văn hào là nhà văn yểu mệnh F. Scott Fitzgerald, Murakami không hề che giấu tình yêu vô tận dành cho tác giả của Gatsby vĩ đại và những ảnh hưởng rõ rệt mà Fitzgerald mang tới ông. Ông viết hẳn một tiểu luận về việc dịch thuật Gatsby, việc ông đã đọc đi đọc lại nó như thế nào và chỉ dám dịch Gatsby khi đã bước sang tuổi bốn mươi. Văn chương của Fitzgerald cũng là thứ văn chương thành thị, thời trang, hào nhoáng, về những con người trẻ và đẹp và buồn, khá tương thích và gần gũi với văn chương của Haruki Murakami.

Nếu có gì khác nhau sâu sắc nữa giữa Hemingway và Murakami thì đó là ở việc Hemingway là người thực sự tự sát, còn Murakami có lẽ sẽ chỉ là người viết về sự tự sát. Cả hai đều nói nhiều về cái chết nhưng nếu như cái chết trong văn chương Hemingway hiển hiện rõ ràng qua những vết thương, những tranh đấu nội tâm, những giờ phút khi tử thần ập đến thì cái chết trong văn chương Murakami tuy xảy đến liên tục và xảy đến bất cứ lúc nào, song chỉ được kể một cách gián tiếp và những người chết thường bất ngờ biến mất, họ chỉ đơn giản là tan biến như bọt xà phòng.

Trong Chuông nguyện hồn ai, Hemingway dành thời lượng rất dài ở chương cuối cùng, để Robert Jordan độc thoại nội tâm khi anh đứng trước hai lựa chọn: nên tự tử hay nên tiếp tục. Còn các nhân vật của Murakami, họ không ngại tự tử nhưng họ tự tử một cách hư vô, gần như không lí do, không bao giờ họ giải thích tại sao mà có lẽ cũng chẳng có lời giải thích nào tồn tại, như Kizuki hay Naoko của Rừng Nauy vậy.

Tóm lại, họ khác nhau vô cùng. Thế mà, họ lại cũng rất giống nhau.

Cả Hemingway và Murakami đều thuộc về “thế hệ lạc lõng” của riêng họ. Dù “thế hệ lạc lõng” của Hemingway là những cựu chiến binh vô hướng giữa thời hậu chiến hoang mang, còn “thế hệ lạc lõng” của Murakami là những thanh niên trôi nổi trong những giấc mơ, giữa một thế giới hiện đại không có một chủ nghĩa hay một lí tưởng nào bám víu. Nhưng, có lẽ mọi sự lạc lõng cuối cùng cũng đều như nhau.

Và ít người để ý rằng, cái tên tập truyện ngắn gần nhất của Murakami, Những người đàn ông không có đàn bà, là lấy từ tên một tập truyện ngắn của chính Hemingway. Nhưng, có lẽ Murakami đã không chỉ tìm niềm cảm hứng từ cái tên đặc biệt ấy. Nếu như trong tập truyện của Murakami có một người đàn ông đã nhịn ăn đến tiêu biến vì tình thì trong tập truyện của Hemingway lại có một người cựu chiến binh với đôi tay hỏng nhưng nỗi đau đó chẳng là gì so với cái chết của vợ ông.

Nếu như trong tập truyện của Murakami có một người đàn ông - chính xác hơn là một cậu học sinh trung học bị giam trong nhà và nguồn sinh khí duy nhất của cậu là người nữ y tá lớn tuổi, người mà cậu gọi là Scheherazade, bởi tài kể chuyện cuốn hút của cô thì trong tập truyện ngắn của văn hào Hemingway, có một người đàn ông trò chuyện cùng người tình trên sân ga ngắm những ngọn đồi trong khi đợi tàu hỏa tới và khi cô bất thần nhận xét những ngọn đồi tựa như đàn voi trắng, tất cả những gì anh chỉ có thể nói được là anh chưa từng thấy voi trắng bao giờ.

Haruki Murakami và cuộc sống bình lặng bên hàng ngàn đĩa nhạc.
Haruki Murakami và cuộc sống bình lặng bên hàng ngàn đĩa nhạc.

Ở tất cả những câu chuyện đó, những người đàn bà luôn hiện lên đầy nhạy cảm và giàu trí tưởng tượng, họ là khởi điểm của sự sống, là lí do cho sự sống. Như trong Samsa đang yêu, truyện thứ năm trong tập truyện của Murakami, một phiên bản ngược của Hóa thân của Franz Kafka (với nhân vật Gregor Samsa bỗng mọt ngày tỉnh dậy và thấy mình biến thành con bọ), Gregor Samsa tỉnh dậy và thấy mình biến thành con người nhưng anh chỉ thực sự hoạt động như một con người khi gặp cô gái đến nhà sửa khóa.

Điều đặc biệt là, từng có thời Hemingway là người đàn ông bị các nhà nữ quyền căm ghét. Những năm 60, sau khi ông qua đời, với sự lên ngôi của làn sóng nữ quyền, những tác phẩm của Hemingway dần mất đi độ phủ sóng và trở nên lạc thời trong suốt nhiều năm, bởi những chỉ trích rằng chúng “trọng dương vật tính, phân biệt chủng tộc, ác cảm với đồng tính luyến ái và có thành kiến đối với phái nữ”. Phải đến năm 1986, khi tác phẩm Khu vườn địa đàng khai phá căn tính nữ và những xu hướng tình dục đồng tính được ấn hành, cơn sốt Hemingway mới quay trở lại. Và trong bối cảnh hiện đại, khi đọc lại các tác phẩm của Hemingway, ta có thể cảm nhận được ông có một sự nhạy cảm không nhỏ dành cho nữ giới nhưng ông khó mà thực sự hiểu được họ.

Cũng giống như Haruki Murakami vậy, phần lớn các tác phẩm của ông, nhân vật kể chuyện (hoặc trung tâm) luôn là nam giới, từ Lắng nghe gió hát, Cuộc săn cừu hoang, Nhảy nhảy nhảy tới những tác phẩm sau này như Rừng Nauy, Biên niên kí chim vặn dây cót, Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương. Còn các nhân vật nữ, cuốn hút nhưng huyền bí, đôi khi quái đản và họ luôn thoắt ẩn thoắt hiện như những câu đố khó bề giải đáp.

Nhưng, trên hết, họ cùng chia sẻ với nhau thứ ngôn ngữ tiếp cận được vơi đa số. Đó cũng là lí do chủ yếu mà họ bị ghét, hay đôi khi, xem thường. Đừng nghĩ rằng một nhà văn lớn mà tác phẩm đã được đọc đi đọc lại qua bao thế hệ như Hemingway mà không từng bị xem thường. William Faulkner, một văn hào Mỹ cùng thời từng nhận xét thế này về Hemingway: “Chưa từng nghe ông ấy sử dụng được từ nào khiến độc giả phải tra từ điển”.

Riêng Murakami thì không cần phải nói, nhiều nhà phê bình đánh giá tiểu thuyết của ông nhẹ hều, thiếu đi sức nặng, một dạng văn chương pop với thứ ngôn ngữ nhạt nhẽo và không có gì mới mẻ. Chính ông cũng phải thừa nhận ở Nhật Bản, ông như một kẻ bơ vơ: “Tôi luôn là một con vịt xấu xí. Luôn là vịt, không bao giờ là thiên nga”.

Nhưng, những con vịt giản dị thì lại gần gũi hơn những con thiên nga kiêu hãnh. Murakami không chỉ là hiện tượng văn chương đương đại với danh tiếng toàn cầu mà còn có thể coi là người sáng lập nên trường phái văn chương với hàng loạt tín đồ là những cây viết trẻ. Nhờ thứ ngôn ngữ trong sáng và dễ hiểu, ông dễ được dịch ra và dễ được tiếp nhận, trở thành nhà văn của mọi người và mọi nhà. Còn với Hemingway thì sao? Ông không đánh đố người đọc nên những tác phẩm của ông giống như cánh cửa đầu tiên dẫn lối người ta vào thế giới văn chương đích thực. Thừa nhận đi, bạn luôn đọc Hemingway trước khi đọc Faulkner, sẽ đọc Giã từ vũ khí trước khi đọc Âm thanh và cuồng nộ, và các sách giáo khoa cơ bản phổ cập sẽ luôn ưu ái Hemingway.

Dù tất nhiên thì họ vẫn cứ khác nhau. Ví dụ như là, Murakami thích lối sống lành mạnh và cắt giảm các đồ uống có cồn. Còn Hemingway thì nghiện rượu đến những ngày cuối cùng trong đời mình.

Hiền Trang

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.