Hé lộ trạm ISS dưới đáy biển

Ngoài khơi lãnh thổ đảo tự trị Curacao (gần bờ biển Venezuela), tại độ sâu 18m, ông Fabien Cousteau đang tìm cách tạo ra môi trường nghiên cứu đáy biển lớn nhất thế giới. Bài viết dưới đây của nhà văn tự do sống ở Brooklyn (New York), bà Elissaveta M. Brandon, đã hé lộ một dự án đại tham vọng về cái được được xem là “trạm vũ trụ quốc tế dưới đáy biển”.

Trạm nghiên cứu dưới nước Proteus

Vào năm 1963, một chiếc tàu ngầm màu vàng, hình đĩa đã lặn xuống màn nước sâu của biển Hồng Hải và hạ neo tại một trung tâm nghiên cứu dưới biển (nơi này cách bờ biển Port Sudan khoảng 26 hải lý) cách mặt biển 10m.

Trên boong tàu ngầm khi đó là nhà thám hiểm kiêm nhà hải dương học huyền thoại Jacques Cousteau, ông đã khiến cả thế giới sửng sốt khi công chiếu bộ phim tài liệu “Thế giới không mặt trời” đoạt giải Oscar. Nơi Jacques Cousteau đặt chân đến là Continental Shelf Station Two, một trạm dưới biển, nơi dùng làm nhà ở và cả phòng thí nghiệm cho 5 người nhái trong suốt 1 tháng.

Với trạm Conshelf Two (một cấu trúc hình con sao biển, có giường tầng và lò sưởi dùng đèn hồng ngoại), ông Jacques Cousteau muốn chứng minh rằng: nhân loại có thể sống dưới biển một thời gian đủ dài.

Được tài trợ ngân sách hoạt động bởi ngành công nghiệp hóa dầu Pháp, sứ mạng Conshelf của nhà thám hiểm Jacques đã bị đình lại chỉ 2 năm sau đó, sau khi trạm mới Conshelf Three được hạ đặt ở độ sâu 100,5m, và bản thân ông Jacques chuyển trọng tâm nghiên cứu sang công tác bảo tồn đại dương.

Tàu ngầm thám hiểm đại dương của nhà thám hiểm Jacques Cousteau. Ảnh nguồn: Fabien Cousteau Ocean Learning Center.
Tàu ngầm thám hiểm đại dương của nhà thám hiểm Jacques Cousteau. Ảnh nguồn: Fabien Cousteau Ocean Learning Center.

Ngày hôm nay, người duy nhất điều hành là Fabien Cousteau (cháu trai của nhà thám hiểm huyền thoại, 34 tuổi), người đang hy vọng sẽ tiếp bước sự nghiệp nghiên cứu của ông nội. Là sáng lập viên của Trung tâm học thuật đại dương Fabien Cousteau (FCOLC, một tổ chức phi lợi nhuận quyết định bảo vệ và bảo tồn các đại dương trên hành tinh, những vùng duyên hải và đời sống biển cả), cũng là đơn vị đang xây dựng trạm nghiên cứu dưới nước lớn nhất thế giới.

Mang tên vị thần biển cả Proteus, trạm nghiên cứu sẽ được hạ đặt ở độ sâu 18m ngay trong Khu vực bảo vệ đại dương nằm ở ngoài khơi Curacao. Lấy cảm hứng từ Trạm vũ trụ quốc tế (ISS), Proteus dự kiến sẽ hoạt động suốt hàng thập kỷ, đánh dấu một chương mới trong lịch sử nghiên cứu biển. Ông Fabien Cousteau phát biểu: “Nhờ công nghệ hiện đại, chúng tôi có thể truyền đạt tầm quan trọng của thám hiểm đại dương”.

Fabien Cousteau học lặn khi mới lên 4. Với tư cách là nhà thám hiểm hải dương học, người ủng hộ môi trường và người yêu thích thủy sinh, Fabien giải thích rằng một trong những thất vọng lớn nhất của ông là giới hạn của việc lặn bằng bình dưỡng khí vốn là một công cụ nghiên cứu cho các nhà khoa học biển. Khi lặn bằng bình dưỡng khí, lượng thời gian an toàn khi lặn ở các tầng nước sâu thường giới hạn mức trung bình 2 tiếng/ ngày.

Fabien quả quyết: “Với trạm Proteus, giờ đây chúng tôi có thể sống dưới biển, lặn xuống các tầng nước sâu từ 10 đến 12 tiếng/ ngày để nghiên cứu, khoa học và quay phim”.

Bà Sylvia Earle, một nhà hải dương học và là người đi tiên phong trong thẩm tra khả năng tồn tại trong các môi trường dưới nước, tỏ ra lạc quan với tầm nhìn của ông Fabien, bà nhấn mạnh: “Proteus là một bước tiến đầy hứa hẹn trong việc truyền tải thông điệp bảo vệ đại dương. Viễn cảnh sống trên các rạn san hô đang dần thành hiện thực, khi đó chúng ta không còn là khách mà đã trở thành công dân của biển cả”.

Năm 2014, ông Fabien đã có 31 ngày sống ở Căn cứ san hô Aquarius, một trạm được xây dựng năm 1986, nằm ở độ sâu 122m dưới biển Key Largo (Florida Keys), và khẳng định: “Tôi muốn chấm dứt sự tù túng, khó chịu trong những chuyến thám hiểm xa hơn bằng cách rinh thật nhiều yếu tố từ trên mặt đất và mang xuống biển nhằm tạo nên các trung tâm nghiên cứu biển tối tân, việc này đòi hỏi phải có một lối bố trí khác hẳn”.

Trạm Proteus được thiết kế bởi nhà thiết kế công nghiệp Yves Béhar và không giống với bất kỳ trạm nào có trước đó. Năm 2018 khi được Fabien được giới thiệu gặp ông Yves thì FCOLC đã tổ chức nhiều buổi hội thảo cùng các hội nghị chuyên đề với các học giả, tập đoàn, kỹ sư nhằm xác thực nhu cầu khoa học đối với trạm Proteus. Hai ông Fabien và Yves cùng gặp nhau ở Helena, một tổ chức mang các nhà lãnh đạo toàn cầu cùng thảo luận và thực hiện các giải pháp cho những vấn đề toàn cầu. Tháng 7/2020, ông Yves đã công bố bản thiết kế trạm Proteus.

Viễn cảnh nhân loại sống dưới biển

Rộng 371,6m2, trạm Proteus lớn gấp 10 lần so với Căn cứ san hô Aquarius. Có hình tròn, cấu trúc 2 tầng này xoay quanh một trục dốc uốn cong nằm chính giữa có mục đích liên kết 2 tầng với nhau.

Nhà thiết kế Yves Béhar ví von: “Xét theo nghĩa đen, quý vị đang sống dưới áp suất cực lớn, nhưng cũng là áp lực khoa học”. Trong Proteus, ông Yves vạch ra một không gian xã hội nằm ở giữa, xung quanh nó là nhiều khu chức năng phụ trợ bao gồm các không gian sống, các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các khu y tế và cả một số phòng tắm.

Ở độ sâu 18m dưới nước, ánh sáng tự nhiên giảm đi một nửa. Hai tầng nhà sẽ được trang bị nhiều cửa sổ mái và cửa sổ trần để đón nhận nhiều ánh sáng tự nhiên nhất có thể. Trong nhà, hệ thống đèn quang phổ sẽ chiếu tia UV với thời lượng 10 phút/ ngày. Để thực hiện các chuyến thám hiểm đại dương, Proteus cũng được trang bị “hồ mặt trăng”, hay nói theo cách của ông Jacques Cousteau là “cánh cửa chất lỏng”.  

Hồ mặt trăng nằm ở dưới đáy cấu trúc, nó cho phép các thợ lặn thoát ra ngoài thông qua một buồng điều áp. Không giống như trong trạm vũ trụ hay trong tàu ngầm, áp suất không khí bên trong các cấu trúc dưới nước được giữ bằng với áp suất nước bên ngoài nhằm ngăn ngừa nước biển lọt vào bên trong. Cơ chế này giúp thợ lặn trượt ra ngoài để tiến hành nghiên cứu thông qua cái gọi là “lặn bão hòa”, một kỹ thuật giúp làm giảm nguy cơ mắc các bệnh do giảm áp.

Sau 24 giờ lặn dưới biển, cơ thể con người trở nên bão hòa với nitơ. Khi tái nổi lên mặt nước, thời gian giải nén là như nhau bất kể thời gian lưu trong nước là bao lâu. Proteus vẫn còn trên giấy, nhưng ông Fabien đã đang huy động khoản ngân sách 135 triệu USD để xây dựng nó và hoạt động trong 3 năm đầu tiên. Hai ông Yves và Fabien đang nghĩ đến ý tưởng dùng công nghệ xây dựng composite cho vỏ cấu trúc và gạch san hô in 3D nhằm tạo ra một vỉa san hô sống trên cấu trúc.

Đề cập đến bản thiết kế Proteus, ông Yves Béhar liên tưởng tới cuốn sách khoa học viễn tưởng của Jules Verne. Năm 1872, văn sĩ Jules Verne tung ra cuốn sách Hai vạn dặm dưới biển. Sáu thập kỷ sau đó, khoa học gia người Mỹ-William Beebe và kỹ sư Otis Barton đã biến tiểu thuyết giả tưởng thành sự thật. Hồi thập niên 1930, hai người bắt tay thử nghiệm các dạng tàu ngầm mini gọi là “quả cầu tắm”.

Những quả cầu nhỏ đã đưa hai người đạt đến độ sâu hơn 900m ở ngoài khơi duyên hải Bermuda để thực hiện khảo sát biển sâu.

Nhưng nhà vật lý kiêm nhà phát minh người Thụy Sỹ, Auguste Piccard đã phát triển tàu ngầm lên một tầm cao mới. Auguste nhận thức rằng giữa khí cầu và phương tiện dưới nước không hề khác nhau. Năm 1960, phát minh đã giúp Auguste Piccard và nhà hải dương học người Mỹ-Don Walsh thực hiện chuyến thám hiểm nơi sâu nhất trái đất tại Rãnh Mariana ở độ sâu 10.916m.

Nhờ các nhà tiên phong, con người đã đạt đến các độ sâu khác nhau, song cũng dấy lên câu hỏi: liệu con người có thể sống ở những nơi đó không? Nhà phát minh ra lặn biển Jacques Cousteau  đã làm cho khán giả màn ảnh nhỏ say mê khi xem các phim tài liệu trên boong tàu nghiên cứu Calypso.

Ông Fabien nhớ lại: “Hồi tôi còn nhỏ, Calypso là ngôi nhà thứ hai. Nó là một lớp học tuyệt vời khi luôn tạo ra những giới hạn mới mỗi ngày”. Năm 1962, ông Jacques Cousteau xây dựng trạm Conshelf One có kích cỡ bằng cái container tàu thủy và dựng ở ngoài khơi biển Marseilles. Hai năm sau đó, trạm Conshelf Three ra đời dưới bàn tay của ông Philippe Cousteau, con trai của ông Jacques, trạm này nằm ở đáy biển Địa Trung Hải.

Sự ra đời của các trạm nghiên cứu Conshelf đã kích hoạt làn sóng xây dựng các trạm dưới nước. Trong hai năm 1969 và 1970, NASA bắt tay với hải quân và Bộ Nội vụ Mỹ để khởi động xây dựng 2 trạm Tektite I và II. Nằm ở độ sâu 15m ngay trong vịnh Đại Lameshur (quần đảo Virgin thuộc Mỹ), trạm này do hãng General Electric chỉ đạo xây dựng.

Sứ mạng NEEMO 21 của NASA diễn ra vào ngày 21 tháng 7 năm 2016, hạ đặt trong Căn cứ san hô Aquarius ở độ sâu 18m trong biển Đại Tây Dương. Ảnh nguồn: NASA.
Sứ mạng NEEMO 21 của NASA diễn ra vào ngày 21 tháng 7 năm 2016, hạ đặt trong Căn cứ san hô Aquarius ở độ sâu 18m trong biển Đại Tây Dương. Ảnh nguồn: NASA.

Mối bận tâm của NASA đối với các cấu trúc dưới nước vẫn được tiếp diễn cho đến tận ngày nay. Đáng chú ý là sứ mạng mang tên Nhiệm vụ hoạt động môi trường cực đoan (NEEMO) của NASA đã biệt phái các tốp phi hành gia, kỹ sư và nhà khoa học đến sống trong Căn cứ san hô Aquarius ở Key Largo. Trong môi trường sâu đặc thù của đại dương là điều kiện tương tự để các phi hành gia khám phá vũ trụ. Lúc đỉnh cao của thám hiểm biển sâu, ông Fabien ước tính có khoảng 20 cấu trúc dưới biển có thể khiến con người sống được.

Ngày nay, trạm Aquarius là cấu trúc nghiên cứu dưới biển duy nhất đang hoạt động suốt 34 năm. Kiến trúc sư người Pháp, Jacques Rougerie, đã dành hết sự nghiệp của mình để xây dựng nhiều cấu trúc dưới nước, và ca ngợi Jacques Cousteau là nguồn cảm hứng để ông dấn thân. Rougerie tin rằng tương lai của nhân loại nằm ở nền kinh tế xanh, hay theo cách mà Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa là “sự bền vững bằng cách dùng các nguồn lực đại dương để phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế, việc làm, và bảo tồn sức khỏe của hệ sinh thái đại dương”.

Nâng cao ý thức giáo dục về đại dương

Jacques Rougerie đã thiết kế nhiều môi trường sống dưới nước, 4 trong số đó đã được xây dựng. Cơ sở đầu tiên là Galathée, nó là một khối cấu trúc bán di động nặng 56 tấn được hạ đặt từ năm 1977 nằm ở ngoài khơi duyên hải Nhật Bản. Thay vì đặt cố định ngay dưới đáy biển như các cấu trúc khác, kiến trúc sư Rougerie đã tạo ra một cấu trúc có chấn lưu cho phép nó neo lơ lửng ở bất kỳ độ sâu nào (từ 9m đến 61m) và không ảnh hưởng đến hệ sinh thái dưới nước.

Cho đến nay, đỉnh điểm trong các thiết kế của Rougerie là SeaOrbiter. Cấu trúc này được xây dựng theo dạng một con tàu nửa nổi nửa chìm và trôi theo phương thẳng đứng và dạt theo các dòng hải lưu.

Theo cơ quan Dịch vụ đại quốc gia Mỹ (NOS) thì hơn 80% diện tích đại dương chưa được lập bản đồ, chưa được quan sát và thám hiểm. Và ngay cả những khu vực đã được thám hiểm thì vẫn chưa được lập bản đồ có độ phân giải đủ cao để phát hiện các mảnh vỡ của xác máy bay hoặc chóp các núi lửa dưới biển.

Ông Fabien hình dung trạm Proteus sẽ phục vụ cho nhiều mục đích nghiên cứu từ hóa sinh cho đến dược phẩm và biến đổi khí hậu. Ông Brian Helmuth, giáo sư về khoa học biển và môi trường, và chính sách công tại Đại học Đông Bắc (Boston, Massachusetts) khi đề cập đến dự án Proteus đã cho rằng trạm trực tiếp trở thành một phần của biển cả chứ không chỉ đơn thuần là những giao liên thông thường.

Những căn phòng thí nghiệm hiện đại trên trạm Proteus sẽ cho phép thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu tại chỗ mà không làm giảm chất lượng mẫu khi vận chuyển, cũng như livestream cho các mục đích giáo dục. Các đại dương đã thay đổi đáng kể kể từ khi bắt đầu thám hiểm đại dương. Những vùng biển lớn giờ đây hoàn toàn trống rỗng oxy tạo thành “những vùng chết” mà giờ có diện tích lớn gấp 4 lần thời điểm năm 1950.

Những trạm nghiên cứu dưới biển như Proteus hay SeaOrbiter có thể giúp đào sâu văn hóa thám hiểm và thí nghiệm của chúng ta. Những phòng thí nghiệm này có thể giúp khám phá ra các loài mới, hiểu thêm về các tác động của biến đổi khí hậu đối với đại dương, và cho phép thử nghiệm năng lượng xanh, nuôi trồng thủy sản và thám hiểm robot. 60 năm sau khi thuyền trưởng Jacques Cousteau quay serie phim tài liệu về chuyến thám hiểm của ông ở Hồng Hải, hoạt động thám hiểm đại dương vẫn chưa phát huy hết tiềm năng.

Ông Fabien Cousteau thừa nhận: “Chúng tôi đã sống dưới đáy biển. Nó mê hoặc chúng tôi, song thực ra chúng tôi cũng mới đi những bước đầu tiên vào không gian mới. Những chuyến thám hiểm xa hơn sẽ chờ đợi các nhà biển học trong thế giới không có mặt trời”.

Phan Bình (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.