Sau sáp nhập và mở rộng không gian phát triển, TP Hồ Chí Minh hiện là siêu đô thị với quy mô dân số hơn 14 triệu người, đóng góp khoảng 22-23% GDP và gần 27% tổng thu ngân sách quốc gia. Đây cũng là trung tâm tài chính, logistics, thương mại điện tử, đổi mới sáng tạo và kết nối quốc tế lớn nhất cả nước. Do vậy việc xây dựng luật đô thị đặc biệt là một đòi hỏi tất yếu trong xu hướng phát triển.
Trong kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Luật đô thị đặc biệt: Đột phá thể chế cho TP Hồ Chí Minh”, PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định, TP Hồ Chí Minh hiện mang những đặc điểm hoàn toàn khác với các đô thị thông thường. Nếu Hà Nội là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, thì TP Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, tài chính và đổi mới sáng tạo của vùng và cả nước. Vì vậy, cách tiếp cận thể chế cũng phải khác biệt.
Theo ông, Luật đô thị đặc biệt cần ưu tiên tính linh hoạt, thử nghiệm và phản ứng nhanh trước những biến động kinh tế toàn cầu. Thành phố phải được trao quyền rộng hơn trong quản trị tài chính, quy hoạch, đầu tư, phát triển khoa học công nghệ và vận hành các mô hình kinh tế mới. “Đô thị đặc biệt không chỉ là tên gọi hành chính mà phải được thể hiện bằng thẩm quyền đặc biệt”, PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh nhấn mạnh.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy TP Hồ Chí Minh đã được trao không ít cơ chế đặc thù thông qua các nghị quyết của Quốc hội. Từ Nghị quyết 54/2017/QH14 đến Nghị quyết 98/2023/QH15 và mới nhất là Nghị quyết 260/2025/QH15, thành phố đã được thí điểm hàng loạt chính sách liên quan đến đầu tư, đất đai, tài chính, tổ chức bộ máy và thu nhập cán bộ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, các cơ chế này vẫn mang tính “thí điểm cục bộ”, thiếu tính ổn định và chưa đủ mạnh để tạo đột phá.
TS Đặng Tất Dũng, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh cho rằng, vướng mắc lớn nhất nằm ở sự chồng chéo giữa cơ chế đặc thù với hệ thống luật hiện hành. Trong nhiều trường hợp, dù đã có nghị quyết riêng nhưng khi triển khai vẫn phải chờ hướng dẫn hoặc xin ý kiến từ các bộ, ngành Trung ương, khiến tiến độ bị kéo dài.
Theo ông, đây là nguyên nhân khiến nhiều chính sách dù đúng hướng nhưng hiệu quả thực tế chưa đạt kỳ vọng. Vì vậy, thay vì tiếp tục áp dụng các cơ chế thử nghiệm ngắn hạn, TP Hồ Chí Minh cần một đạo luật riêng có giá trị pháp lý cao và ổn định hơn.
PGS.TS Huỳnh Văn Thới (Học viện Hành chính và Quản trị công) cho rằng “phân quyền thực chất” phải trở thành nguyên tắc cốt lõi trong Luật đô thị đặc biệt. Thành phố cần được trao quyền tự quyết nhiều hơn đối với các vấn đề mang tính địa phương, đặc biệt là trong quy hoạch, đầu tư công, tài chính và phát triển hạ tầng.
Theo các nhà nghiên cứu, TP Hồ Chí Minh cần được chủ động ban hành một số quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn xây dựng, định mức kinh tế phù hợp với đặc thù đô thị siêu lớn. Các lĩnh vực như TOD, giao thông thông minh, kinh tế số, tài chính quốc tế hay trí tuệ nhân tạo cũng cần có cơ chế thử nghiệm riêng.
TS Lê Trường Sơn, Hiệu trưởng trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, nhận định, nếu vẫn áp dụng tư duy quản lý đồng đều cho mọi địa phương, TP Hồ Chí Minh sẽ rất khó cạnh tranh với các trung tâm tài chính quốc tế trong khu vực. Thành phố cần được vận hành theo cơ chế “quản trị linh hoạt”, cho phép phản ứng nhanh với thị trường và dòng vốn toàn cầu.
Nhiều chuyên gia cũng đề xuất trao thêm quyền cho người đứng đầu chính quyền đô thị nhằm rút ngắn quy trình xử lý công việc. Theo đó, một số lĩnh vực có thể chuyển từ “cơ chế tập thể” sang “cơ chế thủ trưởng” để tăng tính quyết đoán và trách nhiệm cá nhân.
TS Phan Phương Nam (Khoa Luật thương mại -Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh) cho rằng Luật đô thị đặc biệt phải tạo ra cơ chế huy động vốn vượt trội hơn hiện nay. Thành phố cần được mở rộng quyền phát hành trái phiếu đô thị, khai thác quỹ đất, phát triển các mô hình hợp tác công tư (PPP) và chủ động hơn trong điều phối ngân sách đầu tư.
Các chuyên gia cũng đề xuất cho TP Hồ Chí Minh được giữ lại tỷ lệ điều tiết ngân sách phù hợp hơn với vai trò đầu tàu kinh tế. Điều này không chỉ giúp thành phố có thêm nguồn lực đầu tư mà còn tạo động lực tăng trưởng dài hạn.
Về tư duy quản trị đô thị, TS.KTS Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Bình Mỹ (TP Hồ Chí Minh) cho rằng, TP Hồ Chí Minh cần chuyển mạnh từ “quy hoạch quản lý” sang “quy hoạch kiến tạo phát triển”. Theo đó, quy hoạch không chỉ nhằm kiểm soát xây dựng mà phải trở thành công cụ tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Thành phố cần tích hợp quy hoạch giao thông, không gian ngầm, logistics, kinh tế số và phát triển xanh trong cùng một chiến lược tổng thể.
Đồng quan điểm, KTS Cao Thành Nghiệp (Viện đào tạo sau đại học, Trường Đại học kiến trúc TP Hồ Chí Minh) nhận định, TP Hồ Chí Minh hiện không còn là một đô thị đơn tâm mà đang hình thành cấu trúc đa cực. Vì vậy, mô hình quản trị cũng phải thay đổi theo hướng linh hoạt, liên kết vùng mạnh hơn và ứng dụng công nghệ sâu rộng hơn. Thành phố cần có cơ chế riêng cho phát triển đô thị TOD quanh các tuyến metro. Đây được xem là giải pháp quan trọng để vừa giảm ùn tắc giao thông, vừa khai thác hiệu quả quỹ đất đô thị.
Một vấn đề khác được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm là nhân lực chất lượng cao. Theo PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh (Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) TP Hồ Chí Minh cần được áp dụng chế độ công vụ đặc thù, cho phép trả lương theo vị trí việc làm và có chính sách thu hút chuyên gia quốc tế. Bởi nhu cầu về đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực tài chính, công nghệ, quy hoạch và chuyển đổi số trong tương lai ngày càng lớn, nếu vẫn áp dụng cơ chế nhân sự cứng nhắc như hiện nay, rất khó để cạnh tranh với các đô thị lớn trong khu vực.
Ngoài ra, các chuyên gia đều thống nhất rằng Luật đô thị đặc biệt không thể biến TP Hồ Chí Minh thành một “vùng ngoại lệ” đứng ngoài hệ thống pháp luật quốc gia mà cần thiết lập cơ chế giám sát tương thích. Các cơ chế này bao gồm giám sát của HĐND, kiểm toán, tòa án hành chính, giám sát xã hội và đặc biệt là minh bạch dữ liệu…