Là một người từng ít nhiều để tâm tìm hiểu về cuộc đời và văn nghiệp của Phan Tứ, tôi nhận thấy một số tình tiết Nguyễn Quang Lập đưa ra trong bài viết là có cơ sở, không phải "bịa tạc" như ai đó khẳng định.
Ví như, khi Nguyễn Quang Lập viết "Có lẽ nửa đời trong quân ngũ, sống trong môi trường gian khổ khắc nghiệt đã rèn cho Phan Tứ một nếp sống rất lính, chặt chẽ ngăn nắp đến từng li. Anh đặt chỉ tiêu một tháng một cái truyện ngắn, hai mươi trang tiểu thuyết cứ thế mà răm rắp" thì đó là một nhận xét hoàn toàn chính xác. Đọc nhật ký chiến trường của Phan Tứ, có chỗ ta thấy ông ghi hướng… phấn đấu: "ít nhất một năm không sốt rét", hoặc "Viết một truyện ngắn trong ba tháng".
Trong "Nhớ Phan Tứ", Nguyễn Quang Lập còn kể: "Trong cái tạp dề của anh có hộp kim với năm bảy loại kim dài ngắn to nhỏ. Chỉ cũng năm bảy loại và một hộp cúc có đến mấy chục cái khác nhau. Mình nói, biết là anh có tính phòng xa nhưng anh mang theo nhiều loại kim chỉ làm cái gì, lại còn cúc mấy chục loại nữa, không lẽ áo quần anh nhiều loại cúc thế à. Anh nói mang phòng nhỡ có ai tuột chỉ đứt cúc thì dùng chứ áo quần mình có mấy đâu".
Về chuyện này, trước đây tôi cũng từng được nghe nhà thơ Võ Văn Trực - bạn đồng khóa với Phan Tứ ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội kể vui như sau: "Trong túi Phan Tứ lúc nào cũng trữ đủ các loại kim, chỉ cho phù hợp với từng loại vải. Một lần, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú phải ngạc nhiên khi hỏi mượn ông kim chỉ, ông đã hỏi lại: Cô muốn mượn loại kim, chỉ nào. Mãi sau nữ nhà văn mới hiểu ra, Phan Tứ hỏi lại thế là vì ông có đủ các loại kim chỉ dành cho từng loại vải".
Lần đầu tiên Nguyễn Quang Lập được "diện kiến" Phan Tứ là vào năm 1982, khi anh đóng quân ở Phước Tường (Đà Nẵng) và thường qua chơi với các anh chị em bên Hội Văn nghệ tỉnh. Và Nguyễn Quang Lập nhận xét: "Nói chung bốn năm gần anh chưa bao giờ mình nghe anh tán gẫu được dăm câu, lúc nào anh cũng có vẻ vội, không hề thích đàn đúm". Về chuyện này, nhà thơ Ngô Văn Phú - cũng là một bạn đồng học với Phan Tứ ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội - trong một lần trao đổi với tôi đã có nhận xét tương tự: "Trong sinh hoạt, Phan Tứ thường chỉ nói chuyện học hành, cơ quan, chứ ít nói chuyện riêng tư. Và mặc dù còn trẻ, song khi phát biểu, ông rất nghiêm túc, không bao giờ đùa cợt".
Về "nếp" sinh hoạt (rất nguyên tắc) của Phan Tứ, trước đây những nhà văn có điều kiện thân gần với ông cũng đã viết nhiều, kể nhiều. Trong bài viết "Nhớ Phan Tứ", Nguyễn Quang Lập không quên nhắc lại điều này: "Anh Quế nói ông Phan Tứ làm cái gì cũng lên kế hoạch, thời gian biểu kẻ bảng, hôm nay đi đâu, mấy giờ, làm việc đến mấy giờ, tạt qua thăm ai, nói chuyện cái gì, mấy giờ thì về nhà… Cứ thế răm rắp". Kể thì mỗi người một nết, giá như Nguyễn Quang Lập dừng chuyện này ở đây, hẳn bạn đọc sẽ thấy vừa độ. Tiếc là cách đấy ít dòng, anh lại chêm vào mấy câu bông phèng: "Mình cười hì hì, ngủ với vợ chắc cũng đúng giờ luôn nhỉ. Anh Quế nói chớ sao, đến việc vệ sinh giờ nào đi xia giờ nào đi tiểu ông còn rèn cho đúng giờ được nữa là…", câu chuyện trở nên ít đáng tin cậy hơn.
Câu chuyện bất giác làm tôi nhớ tới một số giai thoại có phần thổi phồng về sự cẩn thận thái quá của Phan Tứ, khiến hình ảnh của ông đây đó bị nhòe mờ. Thậm chí, nó còn có thể biến một người trung thực, sòng phẳng, nhiều nét đáng yêu thành một kẻ khô khan, "ki bo" đáng ghét!
Ở đây, tôi xin kể lại một giai thoại nằm trong số đó (không thấy ghi tên tác giả) và nhân thể, tường thuật lại cuộc trao đổi giữa tôi và một số nhân chứng nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn thực hư của những điều đặt ra trong mẩu giai thoại ấy. Bài viết này một phần đã được đăng trên báo Công an nhân dân, song nhân có người khơi gợi lại chuyện cũ, tôi xin được dẫn lại để bạn đọc tham khảo:
"Năm 1972, Phan Tứ in tiểu thuyết "Mẫn và tôi" ở nhà xuất bản Thanh Niên. Khi bản thảo được biên tập xong, nhà xuất bản tạm ứng cho tác giả một khoản tiền. Biên tập viên ký nhận khoản tiền đó tại thủ quỹ và mang đến cho tác giả.
Sau khi sách in xong, nhà xuất bản tính tiền nhuận bút để trả cho Phan Tứ, dĩ nhiên phải trừ lại số tiền đã tạm ứng trước đó. Khi được mời tới nhận nhuận bút, tác giả không công nhận là mình đã nhận số tiền tạm ứng trước đây. Thế là cơ quan nhà xuất bản nghi ngờ anh biên tập kia tham ô. Anh biên tập chạy đến cầu cứu Phan Tứ, nhờ anh cố nhớ lại để giúp anh tránh được kỷ luật và danh dự. Lần đầu Phan Tứ cam đoan là "Tôi đã xem lại 41 cuốn nhật ký và sổ tay của mình, nhưng không hề thấy ghi là đã nhận số tiền tạm ứng đó".
Người biên tập viên đau khổ, phờ phạc đang chạy tiền để đền và chờ nhận kỷ luật. Bất ngờ, một tuần sau, Phan Tứ viết thư đến Ban giám đốc nhà xuất bản báo cáo là anh đã tìm ra số tiền đã nhận được ghi trong cuốn nhật ký thứ 40. Anh biên tập viên kia hú vía, suýt bị kỷ luật".
Đó là nguyên văn mẩu giai thoại được in trong sách "Giai thoại làng văn Việt
Vì chuyện tiền nong thường là vấn đề "nhạy cảm", dễ là căn cứ để đánh giá nhân cách con người, nên ngay sau khi đọc được mẩu chuyện trên, tôi không khỏi "gai gợn" về cách xử sự của nhà văn Phan Tứ, dù người viết có cho rằng ông đãng trí và nguyên tắc đi chăng nữa.
Theo sự chỉ dẫn của nhà thơ Phan Xuân Hạt, người vào năm 1972 được giao duyệt sơ khởi cuốn tiểu thuyết trứ danh nói trên, tôi bấm máy liên hệ với bà Nguyễn Thanh Dần, bấy giờ là thủ quỹ của NXB Thanh Niên.
PV: Bác có cho rằng, để xảy chuyện khúc mắc như trong câu chuyện trên, đó là tại biên tập viên khi tạm ứng tiền cho tác giả đã không lấy giấy biên nhận?
Bà Nguyễn Thanh Dần (NTD): Ông Tứ làm việc với biên tập viên thế nào, tôi không rõ, nhưng đúng nguyên tắc tài chính thì khi đưa tiền, anh phải lấy giấy biên nhận chứ. Tất nhiên, với những trường hợp "cây đa cây đề", họ tự ái, không ghi thì nhà xuất bản cũng phải chịu. Như các ông Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Đào Vũ, tiền ứng thì ứng chứ các ông ấy dường như chẳng chịu ghi biên nhận bao giờ.
PV: Nghe nói nhà văn Phan Tứ là một người rất "kỹ tính" ?
Bà NTD: Phải công nhận ông ấy là người rất cẩn thận, căn cơ. Khi nhận tiền, ông đếm kỹ từng đồng, từng hào, cho đến từng xu. Tôi vốn đã là người cẩn thận rồi, ông Tứ còn cẩn thận hơn. Bởi vậy, khi ông Tứ đến, tôi phải chuẩn bị rất kỹ, phải đổi tiền từ trước để ông lĩnh tiền không thiếu một xu lẻ nào. Ông Tứ lĩnh nhuận bút thường lâu hơn các nhà văn khác.
PV: Thường thì những người chi li lại là những người sòng phẳng?
Bà NTD: Kể thì ông Tứ cũng được cái sòng phẳng thật. Tôi làm thủ quỹ lâu tôi biết, có những tác giả đề nghị tạm ứng số tiền lớn hơn thực tế số nhuận bút sau này họ lĩnh, trong trường hợp ấy thường là nhà xuất bản bị "lõm". Như trường hợp ông Tô Hoài, nhuận bút cuốn "Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ" có đủ bù số tiền ông vay mượn của nhà xuất bản đâu. Riêng ông Phan Tứ, chưa bao giờ ông vay vượt quá mức nhuận bút.
PV: Bác có nhớ, thời ấy nhuận bút tác giả được tính theo phương thức nào?
Bà NTD: Đếm chữ. Khi sách in ra, tôi phải đếm chữ để báo kế toán tính tiền. Có những nhà văn tôi chỉ đếm một lượt. Riêng với hai ông Xuân Diệu và Phan Tứ thì tôi phải đếm đi đếm lại tới 2, 3 lượt. Có cuốn phải đếm mất nửa tháng. Vì với hai ông này, nếu chỉ nhầm một chút có thể rất rầy rà. Như ông Xuân Diệu, ông ấy đếm sẵn, tính sẵn từ nhà, đến nhà xuất bản ông chỉ việc so và khớp lại. Ông Phan Tứ tôi chắc cũng làm như vậy. Có điều không nhầm nên ông không nói ra thôi.
Để vấn đề thêm thông tỏ, kể tới đây, bà Dần cho tôi số máy của ông Trần Thế Tuấn, người trực tiếp biên tập cuốn "Mẫn và tôi" và là nhân vật chính trong mẩu giai thoại kể trên.
Thoạt nghe tôi kể câu chuyện, ông Tuấn "la" lên:
- Đó là chuyện bịa 100%. Tôi và anh Tứ là chỗ chơi thân thiết với nhau từ thời anh ấy còn học Đại học Tổng hợp, lẽ đâu anh ấy lại xử sự với tôi như thế. Chưa nói anh Tứ là người có trí nhớ tốt, thông tuệ mấy thứ tiếng.
Đến đây, ông Tuấn hạ giọng, nhỏ nhẻ lập luận:
- Là người càng cẩn thận, chi li thì càng phải nhớ mình đã nhận tiền của ai, ở đâu, bao nhiêu, và về việc gì chứ? Sự thật, anh Tứ có nhận tiền tạm ứng, đâu như mấy trăm đồng, và có biên nhận đàng hoàng. Còn nhuận bút, tôi nhớ cuốn "Mẫn và tôi" anh ấy được bốn nghìn đồng. Số tiền này bấy giờ lớn lắm. Thời ấy, những người viết đều nghèo, có tiền đâu lắm để mà dễ dàng... quên. Vả chăng, năm ấy anh Tứ mới ngoài bốn mươi, làm sao lẩm cẩm thế được. Theo tôi, viết như vậy hóa hại cho anh Tứ chứ không phải hay gì cho anh ấy đâu. ở đây, tôi thấy cần nói thêm: Anh Tứ tuy nguyên tắc, chặt chẽ trong chi tiêu song khi cần anh ấy cũng biết... thoáng. Như đợt đi dự Hội nghị Nhà văn Á-Phi, anh ấy là trưởng đoàn. Tiền phía bạn phát cho, anh ấy cất trong túi ngực và khâu lại, không chiêu đãi ai trong đoàn. Nhưng về nước thì anh ấy ủng hộ toàn bộ số tiền cho Hội Nhà văn. Cá tính con người nhiều khi có những điểm "trái khoáy" vậy, không phải ai cũng hiểu hết được.
Thế mới biết, đọc giai thoại, ngoài việc để mua vui, người ta còn cần được hiểu đúng, hiểu sâu về người được đề cập...