FARC và cuộc cách mạng dở dang: Hai lần đàm phán bất thành

Vào ngày 23-3 sắp tới đây, tổ chức du kích cánh tả Colombia mang tên Lực lượng vũ trang Cách mạng Colombia (FARC) sẽ cùng với Chính phủ Colombia ký vào bản hiệp ước hòa bình cuối cùng, chấm dứt hoàn toàn cuộc nội chiến kéo dài hơn 50 năm qua tại Colombia gây bao đau thương, mất mát.

Cách đây hơn 50 năm, FARC đã khởi xướng một cuộc cách mạng nhằm lật đổ chính quyền tư bản chủ nghĩa để xây dựng một nhà nước theo chủ nghĩa Mác, hai lần suýt đạt mục tiêu, nhưng cuối cùng lại không thành công. Những hoạt động của tổ chức cách mạng vũ trang này dần dần đi chệch hướng với mục đích, lý tưởng ban đầu, thậm chí ngày càng biến tướng khiến dư luận dễ đánh đồng FARC với một tổ chức khủng bố.

Chiến dịch quân sự khai sinh FARC

Vào ngày 27-5-1964, có đến 1.000 binh sĩ quân đội Colombia, với sự yểm trợ của máy bay chiến đấu và trực thăng, đã mở đợt tấn công quy mô lớn vào một cộng đồng 50 hộ gia đình ở Marquetalia. Mục tiêu của cuộc tấn công là dập tắt hoàn toàn “mối đe dọa cộng sản” ở Colombia. Thế nhưng, kết quả của cuộc tấn công đó lại khai sinh ra một phong trào du kích nổi dậy kéo dài nhất Mỹ Latinh: Cuộc nổi dậy của FARC.

Jacobo Arenas và Manuel Marulanda.
Jacobo Arenas và Manuel Marulanda.

Vào thập niên 1950, Marquetalia được xem là một trong những “vùng cộng sản độc lập” mọc lên như nấm ở các vùng nông thôn Colombia, vốn bị nhà nước lãng quên, không quan tâm. Ở đó, 50 hộ gia đình gồm người theo chủ nghĩa cộng sản, cựu thành viên đảng Liberal (Tự do) và lôi kéo thêm những người khác, được bảo vệ bởi một đội du kích mà người đứng đầu là du kích quân nổi tiếng: Pedro Antonio Marin, biệt danh Manuel Marulanda, hay Trirofijo, có nghĩa “Bắn là trúng”.

Chiến dịch của Chính phủ Colombia nhằm đánh chiếm Marquetalia kéo dài gần 2 tháng, Marulanda và người của ông quân ít, bị áp đảo cả về lực lượng lẫn hỏa lực, nhưng vẫn kiên cường chiến đấu chống trả quyết liệt quân chính phủ, cuối cùng họ trốn thoát. 5 tháng sau đó, những người sống sót tập hợp trở lại và tổ chức Hội nghị lần thứ nhất để tuyên bố sự ra đời của phong trào du kích nổi dậy mà sau này được đặt tên là FARC.

Marulanda chính là người đã khai sinh ra phong trào du kích khét tiếng này. Marulanda vốn là một thành viên đảng Tự do, từng tham gia cuộc nội chiến giữa hai đảng phái Tự do và Bảo thủ (Conservative). Tại Hội nghị, Marulanda tự tuyên bố mình là một người cách mạng cộng sản, dành trọn đời mình để chiến đấu lật đổ chính quyền Colombia. Marulanda đã trở thành động lực và là bộ óc quân sự siêu việt của phong trào nổi dậy, lúc ấy có tên gọi là “Southern Bloc” (Khối phương Nam), và đến năm 1966 đổi tên thành FARC.

Bên cạnh Marulanda còn có Luis Morantes, biệt danh Jacobo Arenas, một nhà hoạt động nghiệp đoàn, lãnh đạo đảng Cộng sản Colombia và là một lý thuyết gia về chủ nghĩa Mác. Arenas được giao phụ trách cánh chính trị của FARC. Hai con người này đã cùng nhau hợp thành bộ xương sống vững chắc của FARC. Nhóm du kích được xem là cánh tay quân sự của đảng Cộng sản Colombia, mở rộng phạm vi hoạt động khắp các vùng nông thôn miền Trung và Nam Colombia. Trong những năm đầu, lực lượng của FARC rất ít, chưa bao giờ vượt quá con số 500 người, có lúc còn khoảng 50 người.

Kế hoạch cướp chính quyền không “thiên thời, địa lợi….”

Trải qua một năm đầu tẻ nhạt, FARC bắt đầu phát triển từng bước chậm nhưng ổn định trong những năm của sthập niên 1970. Tổ chức này bắt đầu áp dụng các chiến thuật đấu tranh hỗn hợp, cả về quân sự lẫn chính trị.

Manuel Marulanda và Jacobo Arenas cùng các du kích quân nổi dậy tại Marquetalia.
Manuel Marulanda và Jacobo Arenas cùng các du kích quân nổi dậy tại Marquetalia.

Họ hình thành Bộ chỉ huy cấp cao – còn gọi là Ban Thư ký – vào năm 1974 và phân chia quân đội thành nhiều mặt trận, mỗi mặt trận như vậy điều hành những đơn vị riêng bao gồm các đơn vị chiến đấu, thu thập tình báo, tài chính, hậu cần, an ninh công cộng và các chương trình công ích. FARC cũng bắt đầu xâm nhập vào các thị trấn nhỏ, thu phục người dân trong thị trấn bằng cách áp đặt luật lệ và kỷ cương riêng.

Ngay từ thời điểm ban đầu, FARC đã sử dụng phương cách bắt cóc và tống tiền để tạo nguồn kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, người dân trong các vùng FARC kiểm soát vẫn xem tổ chức này còn “lãng mạn” chán so với chính quyền Colombia. Thực tế các hoạt động đàn áp đầy bạo lực và dã man của chính quyền Colombia đã khiến cho người dân bất mãn, càng tôn thêm uy tín, hình ảnh cách mạng của FARC, từ đó nhiều người đã tình nguyện gia nhập FARC.

Đến năm 1982, những thành viên chạy thoát khỏi Marquetalia đã hình thành bộ khung cốt lõi của quân đội FARC, với lực lượng gồm 3.000 quân, phân chia làm 32 mặt trận.

Các du kích quân FARC thời đỉnh cao sức mạnh.
Các du kích quân FARC thời đỉnh cao sức mạnh.

Tại Hội nghị lần thứ bảy, FARC đã đánh dấu sự lớn mạnh của mình bằng những cải cách về chiến lược và cơ cấu tổ chức, có ảnh hưởng quan trọng, định hình giai đoạn tiếp theo của cuộc xung đột Colombia. Trong các cải cách quân sự của FARC bao gồm cả việc thêm tên Ejercito del Pueblo (Quân đội Nhân dân) vào cơ cấu quân sự, đặt ra kỷ luật, kỷ cương mới và các quy định hướng dẫn công tác tuyển quân, nhập ngũ, theo đó cho phép thiếu niên 15 tuổi cũng có thể nhập ngũ.

Đặc biệt là Marulanda và Arenas đưa ra trước Hội nghị một kế hoạch cướp chính quyền trong 8 năm. Bản kế hoạch bao gồm chiến lược quân sự sử dụng chiến thuật lấn dần từ nông thôn ra, từng bước áp sát, bao vây các thành phố, thị trấn. “FARC sẽ không còn ngồi yên chờ kẻ thù tấn công mình, mà thay vì thế sẽ đuổi theo, tấn công chúng và xóa sổ chúng” – Marulanda và Arenas tuyên bố.

Một cải cách rất đáng chú ý, có tầm quan trọng rất lớn, đó là cải cách về chính sách tài chính. Lần đầu tiên FARC áp dụng việc đánh thuế lên hoạt động sản xuất cây coca nhằm tạo nguồn thu làm kinh phí cho việc mở rộng hoạt động đấu tranh cách mạng. Lúc đó, ngành công nghiệp sản xuất ma túy từ cây coca đang bùng nổ ở Colombia. Vì thế việc đánh thuế này đã giúp FARC tăng nguồn thu mạnh mẽ, nâng tầm cuộc đấu tranh lên một tầm cao mới.

Trong khi FARC đang vạch kế hoạch giành chính quyền, chiếm lấy quyền lực, thì người dân Colombia lại bầu ra một vị Tổng thống mới mang đến lời hứa tìm kiếm hòa bình. Ông Belisario Betancur đắc cử Tổng thống Colombia vào năm 1982. Vị Tổng thống mới đã tìm đến nói chuyện với FARC, và lần đầu tiên FARC tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình cấp cao.

Để tham gia tiến trình đàm phán, FARC thành lập một đảng chính trị lấy tên là Liên minh Yêu nước (UP) vào năm 1985. Đảng UP bao gồm chủ yếu là người của FARC, nhưng đảng này còn thu hút sự chú ý của nhiều thành phần khác, bao gồm những người thiên tả, các nhà vận động vì hòa bình và cả những người bất mãn với hệ thống chính trị bảo thủ, khép kín. Trong cuộc bầu cử Quốc hội một năm sau khi UP ra đời, đảng này giành được 14 ghế đại biểu, trong đó có 2 ghế thuộc về các chỉ huy quân sự của FARC, cùng với rất nhiều ghế Nghị viện tỉnh và 351 ghế hội đồng địa phương.

Tuy nhiên, cơ hội hòa bình đã sớm vấp phải nguy cơ lụi tàn, vì trong khi Chính phủ Colombia và FARC nói chuyện hòa bình, thì một phong trào chống du kích nổi dậy cũng âm thầm tập hợp lực lượng. Bọn này bao gồm thành phần buôn lậu ma túy, các chủ đất và thành phần thượng lưu về kinh tế và xã hội của Colombia, bất mãn việc FARC tiến hành các vụ bắt cóc và tống tiền.

Chúng hình thành các “đội thần chết” và lực lượng vũ trang tư nhân để chống FARC. Các nhóm bán vũ trang tư sản này lại được lực lượng an ninh Colombia hậu thuẫn sau lưng, xem đảng UP là mục tiêu yếu điểm của FARC. Một cuộc tàn sát đã diễn ra, với khoảng 3.000 dân quân và lãnh đạo của UP đã bị giết, trong số đó có hai ứng viên Tổng thống, 8 nghị sĩ, 13 đại biểu nghị viện cấp tỉnh, 70 đại biểu hội đồng địa phương và 11 thị trưởng.

Hậu quả của vụ tàn sát là FARC quay trở vào vùng rừng núi, nông thôn tiếp tục chiến đấu, bỏ lại đảng UP tự xoay sở, và cuộc đàm phán hòa bình dang dở cũng chấm dứt luôn. Cánh cửa chính trị đã đóng sầm, vũ lực quân sự một lần nữa lại được ưu tiên dùng đến. Theo đánh giá, trong suốt quá trình đàm phán, FARC đã khôn khéo không tỏ ý định hạ vũ khí, thay vào đó là theo đuổi mọi hình thức đấu tranh. Trong khi đó, Chính phủ Colombia đã không thực hiện được lời hứa đảm bảo an toàn cho các thành viên đảng UP, cũng như không thực hiện được các cải cách xã hội. Những thất bại này đã phải trả giá đắt.

Cái chết của phó tướng mở ra thời kỳ mới

Sau những bạo loạn và giết chóc trong thập niên 1980, FARC đã không những không yếu đi mà còn trở nên mạnh hơn trước. Nguồn thu dồi dào từ việc đánh thuế vào hoạt động buôn bán ma túy, kèm với việc tạm dừng giết chóc trong khoảng thời gian diễn ra đàm phán hòa bình đã tạo điều kiện cho họ xây dựng lực lượng mạnh lên gấp 3 lần so với trước.

Bên cạnh đó, FARC còn có thêm một lý do để tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh. FARC hoàn toàn có lý để phản bác lại lời kêu gọi hạ vũ khí để tiếp tục tham gia chính trị, vì FARC đã tham gia chính trị bằng việc thành lập đảng UP, và đảng này đã bị sát hại hầu như không còn ai - một bằng chứng không thể chối cãi. Đấu tranh vũ trang là cách duy nhất.

Thập niên 1990 bắt đầu bằng sự kiện đã tạo ra bước ngoặt, đó là việc Phó tướng Jacobo Arenas chết vì bệnh, để lại một khoảng trống không thể lấp đầy về tư tưởng của FARC. Hơn thế, cái chết của Arenas còn mở toang những trở ngại lớn lao đối với việc FARC tham gia sâu hơn vào hoạt động buôn bán ma túy, bởi việc này đã bị cấm ngặt khi Arenas còn sống.

Thế là FARC ngày càng siết chặt hơn mối quan hệ với bọn buôn lậu ma túy nhằm gia tăng nguồn lợi, thậm chí một vài nơi các thành viên tổ chức này còn tham gia trực tiếp vào hoạt động buôn ma túy. Bên cạnh đó, nguồn lợi từ bắt cóc tống tiền còn gia tăng thêm. Nguồn lực dồi dào hơn bao giờ hết, FARC đã xây dựng được lực lượng hùng mạnh, lên đến hơn 10.000 quân, chia làm 60 mặt trận.

Bộ máy quân sự mới của FARC tiếp tục tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền Colombia. Họ phát động những cuộc tấn công táo bạo hơn và quy mô lớn hơn. Chiến thuật đánh du kích truyền thống không còn được sử dụng nữa, thay vào đó là chiến thuật điều binh cấp lữ đoàn tấn công từng cứ điểm quân sự. Phạm vi kiểm soát lãnh thổ cũng từ đó mở rộng thêm, thậm chí FARC còn có thể nhúng tay can thiệp vào tiến trình chính trị Colombia, tạo ảnh hưởng lên chính trị bằng những đe dọa, hối lộ, bắt cóc những chính khách cao cấp và gia đình họ.

Vụ tấn công táo bạo nhất được FARC tiến hành vào tháng 10-1998, với gần 2.000 du kích quân đánh chiếm thị trấn Mitu, thủ phủ tỉnh Vaupes. FARC chỉ chiếm giữ thị trấn này trong 3 ngày rồi rút đi, nhưng đã để lại một thông điệp mạnh mẽ cho vị Tổng thống vừa mới được bầu là Andres Pastrana.

Quả đúng ý đồ của FARC, chỉ vài tháng sau vụ tấn công Mitu, Tổng thống Pastrana đã chấp nhận các điều kiện tiên quyết của FARC để tiến hành cuộc đàm phán mới – đó là lập một vùng đệm phi quân sự rộng 42.000 km² với 80.000 dân. Vùng đệm đó đã mặc nhiên trở thành một nhà nước thu nhỏ của FARC – được mệnh danh là “Farciandia”.

(Còn nữa)
Nguyên Khang (tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.