Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn:

Đừng tưởng nông nghiệp lên mạnh thì nông thôn phát triển!

Tôi thấy phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Đừng tưởng nông nghiệp lên mạnh thì nông thôn sẽ phát triển. Thực ra không phải như vậy. Một nền nông nghiệp rất phát triển nhưng chỉ có lợi cho người giàu. Còn nông dân làm việc rất vất vả nhưng chẳng được hưởng thành quả bao nhiêu

Quan điểm hệ thống của Giáo sư - Viện sĩ (GS.VS) Đào Thế Tuấn đã đặt cơ sở khoa học cho việc phát triển nông thôn như: kinh tế hộ nông dân, kinh tế học thể chế, kinh tế học ngành hàng, tổ chức nông dân, vốn xã hội… Ông nói: “Tôi thấy phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Đừng tưởng nông nghiệp lên mạnh thì nông thôn sẽ phát triển. Thực ra không phải như vậy. Một nền nông nghiệp rất phát triển nhưng chỉ có lợi cho người giàu. Còn nông dân làm việc rất vất vả nhưng chẳng được hưởng thành quả bao nhiêu”.

Cần tuyên truyền về nhận thức “Bất ly nông”

Chiều muộn một ngày đầu năm 2008, tôi đến nhà riêng của GS.VS. Đào Thế Tuấn trong ngõ cuối con đường mới mang tên Trần Duy Hưng. Vừa đến nơi, tôi đã thấy bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh, vợ ông, đang đứng chờ để đón khách. 

GS.VS. Đào Thế Tuấn có đôi mắt và vầng trán rất giống cha là nhà bác học Đào Duy Anh. Hầu chuyện ông, tôi đưa ra một so sánh rằng ông không theo ngành khoa học xã hội của cha nhưng nổi tiếng trong xã hội không kém cha. 

Song, câu trả lời của GS.VS. Đào Thế Tuấn khiến tôi bất ngờ: Nhìn bề ngoài tưởng như ông không hề liên quan gì đến khoa học xã hội nhưng thật ra khoa học xã hội in dấu rất đậm trong sự nghiệp của ông. Và cũng chính nhà bác học Đào Duy Anh đã nói về cái hứng thú sáng tạo của nhà sử học cũng như của người nghệ sĩ.
Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn và em trai - nhà sử học Đào Hùng. Ảnh: Tư liệu gia đình.
Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn và em trai - nhà sử học Đào Hùng. Ảnh: Tư liệu gia đình.

Năm 1953, ông đang trong quân ngũ thuộc Đại đoàn Công pháo 351 thì Nhà nước cử sang Liên Xô học tập. Đào Thế Tuấn vào học nông nghiệp tại Đại học Tổng hợp Tashkent (nước Cộng hòa Uzbekistan, thuộc Liên Xô). Khóa đầu tiên này chỉ có các ngành về kinh tế và nông nghiệp mà không hề có ngành nào của khoa học xã hội. Ông nhận thấy nông nghiệp là ngành tương đối gần với khoa học xã hội nhất nên theo học.

Ở đây, ông đã trở thành “hiện tượng kỳ lạ” khi vừa học đại học vừa làm luôn nghiên cứu sinh. Trước đó, ở Liên Xô chưa có ai, đặc biệt ông lại là sinh viên một nước “thế giới thứ ba”. Năm 1958, ở tuổi 27, ông “ôm” cả bằng tốt nghiệp đại học xuất sắc lẫn bằng phó tiến sĩ (ngày nay là tiến sĩ) về nước.

Với bao hăm hở, hoài bão của thời trai trẻ, ban đầu Đào Thế Tuấn - phó tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam do Liên Xô đào tạo - đi vào nghiên cứu nông nghiệp. Ông đã thành công trong việc đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông thôn. Ông đã mạnh dạn đề xuất “chuyển lân thành đạm”, thông qua việc bón lân cho bèo hoa dâu và điền thanh để từ đó giúp lúa hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn. 

Trong nghiên cứu giống lúa, ông đã chọn được 7 giống lúa mới như CN3, V14, V15, CR203,... 2 giống ngô và 2 giống đậu tương có năng suất cao hơn hẳn giống cũ, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ông cũng là người nghiên cứu đề xuất cơ sở khoa học của việc phát triển cây vụ đông ở miền Bắc Việt Nam, làm cơ sở cho các nghiên cứu khác để vụ đông trở thành vụ sản xuất chính.

Có một thực tế bày ra trước mắt, ông nhận thấy dù Việt Nam có phát triển đầy đủ về khoa học kỹ thuật nhưng nếu người nông dân không phấn khởi thì thành tựu cũng bị hạn chế. Hàng hóa của nông dân bán được nhiều, tại sao đời sống của họ nhiều nơi vẫn nghèo đói? 

Nêu câu hỏi và ông cũng đã tìm ra được đáp án. Đó là thực tế các đơn vị quản lý nhà nước nhìn vào thị trường nước ngoài quá nhiều mà chưa để ý tới nhu cầu và khả năng của người nông dân trong nước. Ông cho rằng, phát triển kinh tế theo những mô hình nhập ngoại, như trước đây theo Liên Xô, rồi theo các mô hình con rồng châu Á... là không thích hợp. 

GS.VS. Đào Thế Tuấn đi nhiều nơi, xuống trực tiếp với người nông dân ở nông thôn, ông phát hiện ra rằng với những vùng khó khăn có sự cách biệt về điều kiện sinh sống đòi hỏi phải được áp dụng song song cả kỹ thuật lẫn kinh nghiệm dân gian chứ không chỉ đưa cây, con giống mới vào áp dụng là được.

Ông đã tổng kết: “Cái gì chúng ta quên, chúng ta chưa kịp làm thì đã có dân nhớ, dân làm, nhiều khi thực tế lại đi trước lý luận khoa học như vậy. Tôi thấy chúng ta chưa tạo được luồng giao dịch thương mại trong nước thì tư nhân, nông dân đã làm được và giàu có lên được”.

Chuyển sang nghiên cứu về lĩnh vực khoa học xã hội, GS.VS. Đào Thế Tuấn không phải là một nhà sử học nhưng những kiến thức về lịch sử, văn hóa của người cha đã giúp ông giải quyết những vấn đề hiện đại như vấn đề tiến hóa của nông nghiệp - phát triển nông thôn, làng xã, kinh tế hộ nông dân, làng nghề, tổ chức nông dân và thể chế nông thôn...  

Làm về khoa học xã hội trong nông nghiệp nông thôn nhưng ông làm trên một tiếp cận liên ngành với những hiểu biết sâu rộng về cả khoa học tự nhiên, chứ không đi sâu vào vấn đề lịch sử như lớp người đi trước. Ông chú trọng về vấn đề hiện tại trước mắt: Làm thế nào để trong thời kỳ đổi mới này, người nông dân phải được hưởng quyền lợi của họ?

GS.VS Đào Thế Tuấn (bên phải) nhận Huân chương Công trạng nông nghiệp của Pháp (2001). Ảnh: Tư liệu gia đình
GS.VS Đào Thế Tuấn (bên phải) nhận Huân chương Công trạng nông nghiệp của Pháp (2001). Ảnh: Tư liệu gia đình

Ông nói rằng, ở các nước trên thế giới, họ không bao giờ bán hẳn đất đai, vườn ruộng để tự vô sản hóa chính mình. Họ học hành và đi làm viên chức, làm trong các ngành công nghiệp và họ dành thời gian nhàn rỗi chăm lo cho cái gốc nhà nông của mình. Người công nhân có đất nông nghiệp thì thu nhập bao giờ cũng cao hơn những công nhân chay và được đảm bảo trước hết về an ninh lương thực. Nhận thức “bất ly nông” này, theo ông, đó là óc kinh doanh trong nông dân mà báo chí cần chú ý tuyên truyền.

Phục hồi lại một truyền thống cũ

Nghiên cứu nông nghiệp là con đường thầm lặng và GS.VS. Đào Thế Tuấn đồng hành trên con đường thầm lặng ấy, nhiều người gọi ông là “ẩn sĩ”. Nếu không có người thân trong gia đình ông chia sẻ, tôi không biết ông là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Huân chương Công trạng nông nghiệp hạng cao nhất của Pháp, Anh hùng Lao động thời kỳ Đổi mới. Tôi chỉ biết đến ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học - công nghệ với hướng nghiên cứu chủ yếu về phát triển nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân vùng châu thổ sông Hồng, thuộc lĩnh vực khoa học xã hội.

Hệ thống nông nghiệp đã mở ra hướng nghiên cứu mới cho khoa học xã hội của nước ta, được các nhà khoa học Pháp đánh giá cao và được ứng dụng ngày càng phổ biến trong nghiên cứu phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay.

Tròn nửa thế kỷ dồn tâm huyết cả đời nghiên cứu khoa học vào với hệ thống nông nghiệp, năm 2005, công trình được đánh giá dài hơi nhất mang tên “Cơ sở khoa học của sự phát triển nông nghiệp và nông thôn lưu vực sông Hồng” nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Từ bao đời trước, cha ông ta đã thấy rằng nếu chỉ làm nông nghiệp không thôi thì khó có thể làm giàu lên được. Điều đó đã được đúc kết thành câu “phi thương bất phú”. GS.VS Đào Thế Tuấn nhận thấy trong lịch sử của người Việt Nam kinh tế hộ nông dân là truyền thống lâu đời. Khi xây dựng chủ nghĩa xã hội, nước ta bắt chước Liên Xô và Trung Quốc mà không biết Việt Nam có một truyền thống lâu đời về kinh tế hộ nông dân, để rồi bắt nông dân vào các hợp tác xã. 

Đi làm kinh tế hoàn toàn bắt chước thiên hạ. Càng bắt chước chừng nào càng thất bại chừng ấy mà không tìm được cách phát triển riêng của mình. Sau đó, trên thế giới cũng như Việt Nam đã nhận thấy rằng, chính người nông dân đã đề xuất ra cái mới. Người nông dân Việt Nam rất năng động. Thực chất cái đổi mới của nông nghiệp Việt Nam là phục hồi lại một truyền thống cũ - kinh tế hộ nông dân.

Đến cuối những năm 1980, dân không đủ ăn, mỗi năm Việt Nam vẫn phải nhập nửa triệu tấn lương thực. Vậy mà chỉ sau Đổi mới, quay lại kinh tế hộ nông dân, đã giải quyết được, không những bảo đảm an ninh lương thực không phải nhập nước ngoài mà Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ hai trên thế giới. Gần như mặt hàng nông sản nào của Việt Nam (cà phê, cao su, chè...) cũng vào loại thứ nhất, thứ nhì trên thế giới. Tất cả những thành tựu đó, GS.VS Đào Thế Tuấn nói, cuối cùng xuất phát từ kinh tế hộ gia đình của Việt Nam.

Một thực tế khác, GS.VS. Đào Thế Tuấn trăn trở, đó là nhà văn Việt Nam trước đây đã từng có những tác phẩm hướng về nông thôn Việt Nam rất hay. “Còn bây giờ văn học dường như bỏ nông nghiệp rồi. Tôi gặp một số nhà văn, tôi nói với họ phải nghiên cứu vấn đề ấy nhưng người ta không hiểu...”. n

Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn (1931-2011) sinh tại Huế, nguyên quán tại làng Khúc Thủy, xã Cự khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội ngày nay. Năm 1985 ông được phong Viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm khoa học nông nghiệp Lênin (Liên Xô); năm 1991 được tặng Huân chương Hiệp sĩ công trạng nông nghiệp của Pháp; năm 2001 được tặng Huân chương Sĩ quan cành cọ hàn lâm của Pháp; năm 2003 được tặng Giải thưởng quốc tế René Dumont - thưởng cho các nhà nông học ở các nước đang phát triển.
Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.