Duke Ellington: Một người da đen mới

Trong một lần biểu diễn một bản concerto viết cho piano của Mozart, nghệ sĩ piano cổ điển Robert Levin đã gọi "Mozart là Duke Ellington của thế kỷ 18". Không phải Duke Ellington là Mozart của thế kỷ 20, mà Mozart là Duke Ellington của thế kỷ 18...

Nhà Trắng, ngày 29 tháng 4 năm 1969, Tổng thống Nixon ngồi trước cây đại dương cầm, và dù ông thừa nhận là trước đó chưa từng bao giờ chơi nhạc ở đây, ông cuối cùng vẫn dạo bản Chúc mừng sinh nhật thể theo yêu cầu của một người.

Người đó là Duke Ellington, và hôm đó là kỷ niệm sinh nhật tuổi 70 của ngài "Công tước" (Duke trong tiếng Anh nghĩa là Công tước), cũng là ngày mà ông được trao Huân chương Tự do Tổng thống. Khi nhìn lại lịch sử, có lẽ đây là một trong những phút giây hiếm hoi mà Nixon đã làm điều gì đó đúng đắn trên cương vị của mình.

Trong một lần biểu diễn một bản concerto viết cho piano của Mozart, nghệ sĩ piano cổ điển Robert Levin đã gọi "Mozart là Duke Ellington của thế kỷ 18". Không phải Duke Ellington là Mozart của thế kỷ 20, mà Mozart là Duke Ellington của thế kỷ 18. Đây không phải câu chuyện so cao thấp, mà chỉ là một sự nhìn nhận rằng vai trò của Ellington trong lịch sử âm nhạc xếp ngang hàng với những bậc thầy.

Bernard Shaw viết rằng âm nhạc của Mozart "là thứ âm nhạc duy nhất không hề lạc quẻ nếu đặt vào miệng Chúa". Âm nhạc của Duke Ellington thì không như vậy. Nó không phải thứ âm nhạc của lòng lành và cũng không mang nét đẹp thần thánh như âm vọng từ thiên đường. 

Hoàn toàn ngược lại, người ta vẫn gọi thứ âm thanh mà Duke tạo nên là những âm thanh rừng rú - "bị vặn xoắn và hành hình, nhưng biểu cảm đầy đau đớn… khác xa so với mọi hiểu biết của tôi về jazz", theo một nhà phê bình đương thời.

Và làm sao khác được? Duke Ellington là một người Mỹ gốc Phi. Chỉ riêng cụm từ này thôi đã nói lên rất nhiều điều, một cụm từ mang chứa trong nó quá nhiều lịch sử, quá nhiều nước mắt, quá nhiều máu, quá nhiều những những cơn giận dữ, quá nhiều những sự oằn mình vì nỗi đau.

Thời Duke Ellington khởi nghiệp, những nghệ sĩ da màu chơi nhạc cho dân da trắng nhưng không được ra vào bằng cổng chính. Còn vào những năm tháng đỉnh cao sự nghiệp, khi Ellington tới miền Nam, ông phải thuê một chiếc xe riêng được trang bị như một ngôi nhà di động, bởi nhiều khách sạn và nhà hàng vẫn từ chối phục vụ người da màu, dù người đó có là Duke Ellington đi chăng nữa.

Nhưng như Duke Ellington từng nói, rằng âm nhạc chỉ có hai loại, loại hay và loại dở. Tôi cho rằng trên đời cũng chỉ có hai loại, loại hay và loại dở. Ta không thể không biết về Duke mà thờ ơ với bối cảnh lịch sử của người da màu, nhưng mặt khác, không thể ghim Duke vào cuộc đời một người da màu. 

Nếu bạn gọi Mozart là một trong những nhạc sĩ vĩ đại nhất, vậy cũng hãy gọi Duke như thế, chứ không phải một trong những nhạc sĩ da màu vĩ đại nhất. Nghệ thuật không thể và không bao giờ mang một dòng máu thuần chủng, nó luôn "tạp nham", luôn là một "nồi lẩu" sôi sùng sục của rất nhiều nền văn hóa. Việc là một người Argentina cũng không ngăn cản Borge chịu ảnh hưởng từ Kafka - một nhà văn người Czech. 

Việc là một người da màu cũng không thể ngăn cản Duke Ellington kế thừa Chopin rồi truyền cảm hứng cho Elvis Presley - hai người đàn ông da trắng vĩ đại. Cũng như cây đàn piano được tạo nên bởi những phím đen và những phím trắng, âm nhạc luôn quá thiêng liêng để có thể bị phân tách theo các "màu".

Tôi luôn sững sờ mỗi khi nghe Black and tan fantasy , một trong những giai điệu kinh điển do Duke Ellington và Bubber Miley - một nghệ sĩ trumpet, người cộng sự trong dàn nhạc của Duke - đồng sáng tác. 

Bản nhạc gồm hai "dòng" trumpet, một ảo não và rên rỉ, một tươi sáng và dịu êm, rồi những hợp âm piano bất quy tắc nổi lên, xen lẫn với tiếng trombone ù ù - tất cả đều hoàn toàn là thứ blues của người da màu, để rồi vào chính đoạn kết, một cách trơn tru, bản nhạc kết thúc bằng một đoạn được lấy từ Hành khúc tang lễ của Chopin. 

Black and tan fantasy là một trong những bản nhạc đầu tiên trên thế giới mà từ "black" (đen) được đưa vào tựa đề, thế nhưng, thay vì kiêu hãnh tôn vinh âm nhạc của dân tộc mình, Duke khép lại nó trong giai điệu của một người da trắng,  không sợ hãi và không mặc cảm. Đó chẳng phải là biểu hiện cao nhất của sự hòa hợp sắc tộc?

Hình ảnh câu lạc bộ Cotton, nơi lập danh của Duke Ellington và dàn nhạc của ông. Những buổi diễn của Duke tại đây đã thay đổi bộ mặt của âm nhạc mãi mãi. Câu lạc bộ Cotton cũng được coi là một di tích mang tính lịch sử của khu vực Harlem nói riêng và New York nói chung.
Hình ảnh câu lạc bộ Cotton, nơi lập danh của Duke Ellington và dàn nhạc của ông. Những buổi diễn của Duke tại đây đã thay đổi bộ mặt của âm nhạc mãi mãi. Câu lạc bộ Cotton cũng được coi là một di tích mang tính lịch sử của khu vực Harlem nói riêng và New York nói chung.

Sự nổi lên của Duke Ellington tại những câu lạc bộ âm nhạc ở khu Harlem vào thập niên 20, thời đại mà F.Scott Fitzgerald gọi là "thời đại jazz", đánh dấu một giai đoạn mà sau này được gọi là Sự Phục Hưng của Harlem. 

Thời đại này gắn liền với phong trào ‘Người da đen mới” cái tên dựa theo một bài tiểu luận của triết gia Alain Locke. Trong bài tiểu luận ấy, Locke khẳng định rằng "cái thời của những dì (1), những bác (2), những vú em (3) đã hết. 

Bác Tom hay Sambo (4) đã qua rồi", và trong quá khứ, một người da đen không được nhìn nhận như một con người cá nhân, mà bị quy giản về những công thức và định kiến: một người da đen chỉ có thể là "một cái gì đó để tranh luận, để phỉ báng hay để bênh vực, để đàn áp hay để nâng đỡ, để quấy rối hay để bảo trợ, một ông kẹ hay một gánh nặng". 

Một người da đen nếu không đau khổ thì phải căm thù, nếu không khát khao tự do thì phải có cuộc đời đầy ắp bi kịch, họ như những con rối hay những hình nộm nhào nặn bởi suy nghĩ của người da trắng, đôi khi là cả những những người da trắng tử tế.

Nhưng, một “người da đen mới” từ chối những áp đặt đó. Và, theo cách đó, ta có thể gọi Duke Ellington là một trong những “người da đen mới” đầu tiên. Ông đã từng là một người rửa bát trước khi vươn lên trở thành một nhân vật lịch sử, nhưng không mấy ai nói xoáy sâu vào điều đó khi nói về cuộc đời Duke Ellington.

Ta không thể phân loại ông, và ông cũng không cho phép ta phân loại. Ông gọi âm nhạc của mình "vượt ra ngoài thể loại", nó chẳng thuộc thể loại nào cả, nó không có giới hạn cho sự tưởng tượng. 

Ông mượn Chopin và ông chơi cả nhạc của The Beatles. Và chi tiết này rất đáng giá, Duke Ellington và dàn nhạc của ông biến tấu nhạc The Beatles vào năm 1970, khi ấy Duke cũng đã 70 tuổi và chỉ 4 năm sau thì ông mất. 

Ở độ tuổi đó, ông vẫn thức thời, vẫn bắt kịp thời đại, vẫn biết ở ngoài kia đám thanh niên đang phát cuồng lên vì cái gì! Có lẽ đó là lí do mà Duke Ellington đã xây dựng được một trong những dàn nhạc hoạt động dài lâu nhất trong lịch sử. 

Hay một ví dụ khác, album Such Sweet Thunder (Thật là một tiếng sấm ngọt ngào) của Ellington ra mắt năm 1956. "Thật là một tiếng sấm ngọt ngào" là một cụm từ trong vở Giấc mộng đêm hè của nhà soạn kịch William Shakespeare, và trong album đó, phần lớn các bản nhạc đều lấy cảm hứng từ những nhân vật của Shakespeare: từ Caesar đến phu nhân Macbeth, từ Hamlet đến Romeo và Juliet,  từ Cleopatra đến Othello, từ ba mụ phù thủy trong vở Vua Lear đến Henry đệ ngũ. 

Nếu nghĩ về việc chúng ta vẫn thường lên án Murakami là nhà văn Nhật mất gốc chỉ vì ông này lấy cảm hứng từ Raymond Chandler và để các nhân vật ăn pizza, ta chợt nhận ra Duke Ellington vẫn cấp tiến ngay cả khi so với những con người của thế kỷ mới (thật chẳng sai khi Nat King Cole nhận xét Duke luôn đi trước thời đại 25 năm). 

Duke không cần viết nhạc về những huyền thoại châu Phi để chứng minh sự giàu có của nền văn hóa của người da màu, ông chọn hẳn Shakespeare, đỉnh cao của văn chương châu Âu. 

Sự vĩ đại của Duke nằm ở chỗ ông không phủ nhận những gì làm nên con người mình, một người da đen cũng đồng cảm với Shakespeare cũng như một người châu Á có thể kết nối với tâm hồn của Chopin. Tầm vóc của một con người không nằm ở sự tự tôn cực đoan hay sự chối bỏ mọi ảnh hưởng của những dân tộc khác. Không màu da nào có thể lớn hơn âm nhạc hay nghệ thuật.

Trắng hay đen, sự phân biệt đó chẳng có gì là quan trọng cả, chẳng có nghĩa lí gì cả, như tên một ca khúc của Duke Ellington, It don't mean a thing, if it ain't got that swing. Chẳng có nghĩa lí gì cả nếu không có một giai điệu swing. Thứ còn lại cuối cùng chỉ có âm nhạc mà thôi.

--------------------------------

(1), (2), (3) Cách gọi những người hầu da đen trong quá khứ
(4) Các nhân vật trong tiểu thuyết “Túp lều bác Tom”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ ở miền Nam nước Mỹ.

Hiền Trang

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.