Đọc lại tập thơ mỏng nhất thi ca Việt Nam: Hoài Thanh đã sai rồi?

Nguyễn Nhược Pháp (1914 - 1938) được xem là một gương mặt độc đáo, đặc biệt của phong trào Thơ Mới (1932 - 1945).

Giã từ cõi thế khi tuổi đời còn rất trẻ, tập thơ duy nhất ông để lại – “Ngày xưa” – ra mắt công chúng khi ông vừa 21 tuổi được xem là tập thơ mỏng nhất trong lịch sử xuất bản các ấn phẩm thơ của Việt Nam với số lượng các thi phẩm chỉ đúng 10 bài. 

Thế nhưng, một giọng điệu riêng đã được tạo dựng, một ấn tượng khó phai đã in sâu vào lòng độc giả suốt bao năm tháng qua, gắn với sự lan tỏa và sức sống của nhiều câu, nhiều bài trong tập, mà được nhắc đến nhiều hơn cả là hai bài “Chùa Hương” “Sơn Tinh Thủy Tinh”

Thế nhưng, sau 80 năm ngày mất của cố thi sĩ, người viết bài này vẫn băn khoăn tự hỏi, thực ra đâu là chất thơ chủ đạo của thi tập “Ngày xưa” (1935)?

Từ những nhận xét của Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”

Những lời giới thiệu của Hoài Thanh về thơ Nguyễn Nhược Pháp trong Thi nhân Việt Nam có thể xem là những lời bình đầu tiên về tập thơ này, cũng như về phong cách thơ của Nguyễn Nhược Pháp. 

Theo đó, tập Ngày xưa “đã làm sống lại cả một thời xưa. Không phải cái thời xưa nặng nề của nhà sử học, cũng không phải cái thời xưa tráng lệ hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa gồm những màu sắc tươi vui, những dáng hình ngộ nghĩnh. 

Thời xưa ở đây đã mất hết cái vẻ rầu rĩ cố hữu và đã biết cười, cái cười của những “thắt lưng dài đỏ hoe”, những “đôi dép cong nho nhỏ” (…) Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười…”. 

Những nhận xét vừa dẫn của Hoài Thanh có thể nói đã chi phối toàn bộ việc tiếp nhận các bài thơ của độc giả về Nguyễn Nhược Pháp trong nhiều năm qua. 

Hai bài ông trích đăng trong Thi nhân Việt Nam là “Tay ngà” và “Chùa Hương” quả thực đều xứng đáng là đại diện cho một hồn thơ trong trẻo, tươi sáng, thơ ngây với nhiều câu thơ xanh non, mơ màng, “tươi vui”, “ngộ nghĩnh”: “Trên lầu mấy thị nữ/ Cùng nhau rúc rích cười/ ”Thưa cô đừng thẹn nữa”/ Quan Nghè trông lên rồi”/ Cúi đầu nàng tha thướt/ Yêu kiều như mây qua/ Mắt xanh nhìn man mác/ Mỉm cười vê cành hoa” (Tay ngà), Khăn nhỏ đuôi gà cao/ Em đeo dải yếm đào/ Quần lĩnh áo the mới/ Tay cầm nón quai thao (…) Em đi cùng với me/ Me em ngồi cáng tre/ Thày theo sau cưỡi ngựa/ Thắt lưng dài đỏ hoe (Chùa Hương).

Chất “tươi vui”, “ngộ nghĩnh, “khúc khích cười” còn được Hoài Thanh chứng minh qua những câu thơ khác trong bài “Sơn Tinh Thủy Tinh”: Nhưng có một nàng mà hai rể/ Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều (…) Theo sau cua đỏ và tôm cá/ Chia đội năm mươi hòm ngọc trai/ Khập khiễng bò lê trên đất lạ/ Trước thành tấp tểnh đi hàng hai”. 

Nguyễn Nhược Pháp trong "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh - Hoài Chân.
Nguyễn Nhược Pháp trong "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh - Hoài Chân.

Phải công nhận rằng, chất tươi vui ngộ nghĩnh đúng là một nét duyên độc đáo của thơ Nguyễn Nhược Pháp, và những câu thơ mà Hoài Thanh trích dẫn để minh chứng về chất thơ ấy cũng hoàn toàn xác đáng. 

Nhưng liệu đây có phải là cảm hứng chủ đạo nếu ta nhìn bao quát toàn bộ thi tập Ngày xưa hay không thì câu trả lời là chưa chắc. Cái bóng của “Chùa Hương” có vẻ như quá lớn, dường như đã khiến những bài thơ còn lại trong tập chìm đi, chưa được nhìn nhận một cách bình tĩnh và thấu đáo. Thế nên người viết bài này đã làm một việc mạo muội là bình tĩnh đọc lại toàn bộ 10 bài thơ của tập Ngày xưa.

Đâu mới là chất thơ chủ đạo của “Ngày xưa”?

Tìm cảm hứng đề tài từ chất liệu lịch sử là một cách đi riêng của Nguyễn Nhược Pháp (có hai nhà thơ khác của phong trào Thơ Mới cũng tìm cảm hứng đề tài từ chất liệu lịch sử nhưng cách thể hiện của họ là hoàn toàn khác nhau, đó là Huy Thông và Chế Lan Viên). 

Thế nhưng nhìn lại toàn bộ các bài thơ trong tập, ta sẽ thấy đa số là những khúc bi sử. Danh sách 10 bài theo đúng thứ tự như sau: “Sơn Tinh Thủy Tinh”, “Mỵ Châu”, “Giếng Trọng Thủy”, “Tay ngà”, “Mỵ Ê”, “Một buổi chiều xuân”, “Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống”, “Đi cống”, “Mây”, “Chùa Hương”. Trừ ba bài đã được Hoài Thanh nhắc đến là “Sơn Tinh Thủy Tinh”, “Tay ngà” và “Chùa Hương”, những bài còn lại đều chưa được giới thiệu. 

Có thể thấy, trong 7 bài thơ còn lại của tập Ngày xưa, trừ bài “Một buổi chiều xuân” có giọng điệu khá tương đồng với “Chùa Hương”, các bài còn lại đều là những khúc tình buồn. 

Hai bài “Mỵ Châu” và “Giếng Trọng Thủy” đều lấy cảm hứng từ mối bi tình chia lìa xa xót của đôi trai tài gái sắc.

Cái chết của Mỵ Châu và Trọng Thủy là những điểm nhấn đặc biệt trong hai bài kể trên, thi ảnh “mắt lệ” trở đi trở lại đến 4 lần trong bài “Mỵ Châu”: Hiu hắt Mỵ Châu nằm, giăng phủ/ Ầm ầm sóng thảm vỗ vờn quanh…/ Thương ai sao biếc thầm gieo lệ/ Sương mờ bay tỏa bạc ngàn lau…/ Chàng đi cho bao giờ gặp gỡ/ Phiên Ngung nước cũ, lệ chan hòa…/ Lông ngỗng cầm tay nhòa ánh lệ/ Chàng đi man mác buồn, đêm thâu…/ Thiêm thiếp ai bên đường, hỡi ôi!/ Chàng ôm khóc nghẹn chẳng ra lời…(Mỵ Châu). Đêm khuya gió lốc mây đen vần/ Cỏ lướt gieo mình vực giếng thâm/ Trọng Thủy nằm trên làn nước sủi/ Tiếng mõ cầm canh xa âm thầm (Giếng Trọng Thủy). 

“Mỵ Ê” và “Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống” là hai khúc tình buồn khác, đều in dấu trong đó yếu tố tử biệt sinh ly. Mỵ Ê thì chọn cách quyên sinh cùng dòng nước: Ủ lệ, tay ngà ôm ngực huyết/ Mỵ vờn theo sóng dạt bờ hoang. 

Nguyễn Thị Kim cũng “nén lòng đau khóc nghẹn nhời”: Chuông đồng cảnh vắng, hồn mơ sảng/ Giăng lạnh, đêm sâu, cú đổ hồi/ Thê thảm chàng đi, về có vậy/ Thiếp chờ ai nữa? Hỡi chàng ôi. 

Có thể nói, nước mắt tràn ngập trong 4 bài thơ vừa dẫn của Nguyễn Nhược  Pháp, và ta không thể nói chất thơ của những bài này là tươi vui, ngộ nghĩnh, khúc khích cười được. 

Ở hai bài “Đi cống” “Mây”, tâm trạng con người cùng thiên nhiên đều được miêu tả với nhiều buồn thương, thậm chí là u ám, yếm thế. 

Bài “Đi cống” khắc họa tâm trạng của những con người phải dấn thân vào chốn rừng sâu núi thẳm, đường xa muôn dặm chưa biết ngày nào được trở lại đoàn tụ với vợ con, thậm chí có những người có thể không còn ngày trở về: Lúc ấy giời xanh không u ám/ Đầu non không tờ mờ bóng sương/ Làm sao họ âu sầu thảm đạm? Buồn thay người cố quận tha hương (…)Sứ bỗng nhìn quanh buồn ủ rũ/ Xa xa ngọn cờ vàng phất phơ/ Vợ con ở chưn giời mây phủ/ Hẳn đang nhìn bóng nhạn mong chờ…(Đi cống). Khi thấy hồn người thân/ Nhìn mây lệ khôn cầm/ Trên xe bầy tứ mã/ Tiếng lăn bánh âm thầm (Mây). 

Mà kể cả hai bài “Một buổi chiều xuân” và “Tay ngà”, nếu đọc kỹ cũng thấy những câu kết của hai thi phẩm đều buồn man mác, đều có nỗi gì như dang dở, tiếc nuối bâng khuâng và phảng phất một dự cảm của điều không trọn vẹn: Ta còn đang luyến mộng/ Yêu bóng người vẩn vơ/ Tay ngà ai phủ trán?/ Hiu hắt ánh giăng mờ... (Tay ngà), Nàng chợt nghiêng thân ngà/ Thoảng bóng người xa xa/ Reo kinh hoàng, e lệ/ Đưa rơi cành bút hoa/ Ta mơ chưa lại hồn/ Nàng lẹ gót lầu son/ Vừa toan nhìn nét phượng/ Giấy thẹn bay thu tròn… (Một buổi chiều xuân).

Và thử nhìn lại cả bài “Sơn Tinh Thủy Tinh”

Như vậy, tôi đã vừa chứng minh chất buồn thương có mặt ở trong 8/10 bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp với các mức độ đậm nhạt khác nhau. Và bây giờ sẽ tiếp tục dành một phần riêng để bàn về “Sơn Tinh Thủy Tinh”. 

Toàn bộ trước tác của Nguyễn Nhược Pháp do Nguyễn Lân Bình sưu tầm, biên soạn.
Toàn bộ trước tác của Nguyễn Nhược Pháp do Nguyễn Lân Bình sưu tầm, biên soạn.

Liệu bài thơ với khá nhiều những câu mà Hoài Thanh đã dẫn để chứng minh cho chất tươi vui ngộ nghĩnh có thực sự đơn thuần là một thi phẩm mang âm hưởng tươi sáng hay không? 

Nếu ta đọc lại “Sơn Tinh Thủy Tinh” của Nguyễn Nhược Pháp từ góc nhìn tình yêu đôi lứa thì phải thấy rằng đây là một câu chuyện tình với những nỗi xa xót, dở dang, oán hận của ít nhất một người trong cuộc – Thủy Tinh. 

Ngay từ đầu Thủy Tinh đã bị đối xử thiếu công bằng khi những lễ vật Hùng Vương yêu cầu đều là những con vật thuộc miền núi cao/ đồng bằng, không phải là địa bàn thuận lợi của Thủy Tinh: voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. 

Có lẽ nhiều người trong chúng ta khi đọc bài thơ này đều bị chi phối bởi sự liên tưởng tới nguyên gốc của tác phẩm – một câu chuyện truyền thuyết, được trình bày với ngụ ý về cuộc tranh đấu giữa con người và thế giới tự nhiên mà Thủy Tinh là một biểu tượng của thiên tai lũ lụt. Chúng ta chưa từng nghĩ nhiều về những tâm trạng của các nhân vật trữ tình trong tác phẩm, mà Thủy Tinh chính là nhân vật phải ôm nỗi hận tình chua chát nhất. 

Nếu thử so sánh “Sơn Tinh Thủy Tinh” (1935) của Nguyễn Nhược Pháp với “Sơn Tinh Thủy Tinh” (1976) của Huy Cận, ta sẽ thấy nhiều điểm thú vị và khác biệt. Hai bài thơ đều được viết theo cốt truyện của một văn bản gốc nhưng cách khai triển lại hoàn toàn khác nhau. 

Nguyễn Nhược Pháp mạnh về những miêu tả hình thức bên ngoài của cảnh và người còn Huy Cận lại tập trung nhiều câu thơ vào cuộc đối đầu giao tranh giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.

 Nhưng điều quan trọng nhất ở chỗ, phần kết của hai thi phẩm hoàn toàn khác nhau. Tôi vẫn cho rằng, đoạn kết của một tác phẩm thơ bao giờ cũng có vị trí quan trọng nhất trong một cấu trúc văn bản nghệ thuật, nó là khúc dư âm cuối cùng để lại trong tâm hồn người đọc. 

Thì đây, ta hãy xem Nguyễn Nhược Pháp kết như thế nào: Thủy Tinh năm năm dưng nước bể/ Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương/ Trần gian đâu có người dai thế/ Cũng bởi thần yêu nên khác thường

Còn Huy Cận chọn một cách khác để khép lại tác phẩm: Bão lụt dứt trời quang mây tạnh/ Núi Tản như viên ngọc xây thành/ Sông lạch chảy như thêu chỉ gấm/ Trên cánh đồng lúa mướt màu xanh

Rõ ràng, cách kết của Nguyễn Nhược Pháp đọng lại một nỗi niềm gì day dứt bởi nó xoáy vào tâm trạng của Thủy Tinh, một kẻ thua tình, ôm niềm uất hận suốt đời không nguôi.

Kỷ niệm 80 năm ngày mất của Nguyễn Nhược Pháp và đọc lại tập thơ của ông, đưa ra một cách nhìn khác với những người đi trước, tôi mong được nhận lại ý kiến trao đổi rộng rãi của độc giả gần xa.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.