Đoạn kết bi thảm của điệp viên Guy Burgess trong nhóm “Bộ ngũ Cambridge”

Là một điệp viên giỏi, bề ngoài hào hoa nhưng trong cuộc sống riêng, Guy Burgess lại là một con người bê tha, bừa bãi, khác hẳn với hình ảnh cũng như tư chất của một siêu điệp viên. Quá trình hoạt động cũng như quãng đời ngập trong rượu chè và khói thuốc của Guy Burgess đã được tiết lộ trong quyển sách của tác giả Andrew Lownie với tựa đề "Stalin's Englishman: The Lives Of Guy Burgess", dự kiến phát hành vào ngày 10/9 tới đây.

Điệp viên "sâu rượu"

Thường xuyên lui tới các quán rượu đông người, Guy Burgess luôn mồm huênh hoang và còn thốt ra tên của một số nhân viên tình báo Anh. Đối với một nhân viên làm việc trong Bộ Ngoại giao Anh, cách hành xử của anh ta thật sự nguy hiểm. Cơ quan Tình báo Anh MI-6 được báo cáo ngay về sự việc này. Khi Burgess trở lại làm việc sau kỳ nghỉ, anh ta bị đưa vào phòng nhân sự của Bộ Ngoại giao. Tình hình nghiêm trọng đến mức Burgess hoặc sẽ phải từ chức hoặc sẽ bị sa thải.

Tuy nhiên, cứu tinh của Burgess xuất hiện và giúp anh ta thoát hiểm trong gang tấc. Guy Liddell, một nhân vật cấp cao trong Cơ quan phản gián MI-5 và là một chuyên gia về các hoạt động của Liên Xô ở Anh. Ông Liddell cho rằng chỉ cần khiển trách thật nặng là đủ với Burgess vì điệp viên này sẽ phát huy đúng sở trường khi hữu dụng.

Dù đã thoát hiểm nhưng Burgess biết rằng rất nhiều họng súng đang chĩa về phía mình. Anh ta cảm thấy bất an không chỉ vì mình bị nghi ngờ mà vì cả mạng lưới tình báo Liên Xô mà anh ta là một phần đang bắt đầu bị lộ. Trong cuộc gặp căng thẳng kéo dài tới 6 tiếng rưỡi tại một công viên ven ngoại ô với cấp trên người Nga, Burgess cho biết anh ta sợ bị lộ.

Nỗi sợ khiến Burgess luôn ở trạng thái căng thẳng và phải lấy rượu để tự trấn an mình. Burgess còn nợ nần chồng chất. Dù hưởng lương 700 bảng ở Bộ Ngoại giao Anh, có khoản thu nhập riêng chừng 500 bảng và số tiền công hậu hĩnh từ phía người Nga nhưng anh ta vẫn phải vay bạn bè từng đồng.

Guy Burgess ở Moscow, năm 1956.
Guy Burgess ở Moscow, năm 1956.

Sự nghiệp của Burgess lẽ ra đã bước vào ngõ cụt nhưng thay vào đó, Bộ Ngoại giao Anh lại quyết định thăng chức cho anh ta. Anh ta được làm Phó Đại sứ quán Anh tại Mỹ và được trao cho cơ hội cuối cùng để chứng tỏ giá trị của mình. Một lần nữa, mạng lưới các mối liên hệ có ảnh hưởng mà Burgess thiết lập từ khi ở Cambridge đã cứu anh ta. Việc anh ta được chỉ định làm Phó Đại sứ tại Mỹ cũng là sự việc bất thường vì anh ta chưa bao giờ giấu giếm sự căm ghét nước Mỹ và các chính sách chống Trung Quốc, Liên Xô của nước này. Đại sứ quán Anh cũng không muốn có Burgess.

Một nhà ngoại giao cấp cao cho rằng Burgess có cuộc sống phóng túng, vô trách nhiệm và không đáng tin cậy. Tuy vậy, Đại sứ quán Anh tại Mỹ vẫn không thể từ chối tiếp nhận anh ta. Bản thân Burgess cũng ngần ngại không muốn tới Mỹ. Nhưng khi không còn triển vọng nào sáng hơn và bị người Nga gây áp lực đi Mỹ, Burgess đã chấp nhận công việc mới.

Một điều thuận lợi của Burgess là người đứng đầu Cơ quan Tình báo Anh MI-6 ở Washington là Kim Philby, một trong những người bạn cũ của Burgess ở Trường Cambridge và cũng là một điệp viên mật của Liên Xô. Khi Burgess tới Washington, anh ta dọn vào nhà Philby và định ở cho đến khi tìm được căn hộ. Nhưng thực tế, anh ta ở hẳn nhà Philby. Lối sống bê tha của Burgess khiến vợ Philby rất khó chịu. Đầu mẩu thuốc lá chất đống sau ghế sofa, chăn lông vũ bị cháy sém. Món ăn nào anh ta cũng muốn có tỏi, kể cả cháo và bánh pudding Giáng sinh. Anh ta uống rượu liên miên.

Còn tại Đại sứ quán, lẽ ra Burgess sẽ được làm những việc để phát huy kinh nghiệm đáng kể về vùng Viễn Đông nhưng không bộ phận nào muốn nhận Burgess vào đội. Vì thế, anh ta được giao nhiệm vụ đi thu thập thông tin thông qua các mối quan hệ xã hội. Vì thế, anh ta trở thành một vị khách thường xuyên trong nhà của những người có vai vế ở Washington.

Một ngày đi làm bình thường của Burgess như sau: Anh ta xuất hiện ở văn phòng lúc 11 giờ trong bộ quần áo cùng chiếc áo gile lấm lem thức ăn. Lúc 13 giờ kém, anh ta sẽ đi ăn trưa ở một quán ăn rẻ tiền nào đó và gọi một chai rượu California. Trở về sau bữa trưa, anh ta say túy lúy, về phòng riêng ở Đại sứ quán và lúc thì ngồi, lúc thì nằm ườn ra rồi ngáy. Dù ghét người Mỹ, dù không đáng tin và hợm hĩnh nhưng Burgess vẫn tồn tại được nhờ anh ta vẫn có những lúc xuất chúng, có trí thông minh và có thể thực hiện công việc hiệu quả.

Người sinh sự

Có lần Burgess gây chuyện lớn trong một bữa tiệc tối ở nhà Philby - nơi có một số quan chức cấp cao của Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA). Burgess không được mời nhưng anh ta về nhà trong trạng thái say bét nhè và hung hăng. Trong trạng thái đó, anh ta đã xúc phạm ông William Harvey, điệp viên phản gián hàng đầu của CIA, khi vẽ một bức vẽ nguệch ngoạc về bà vợ Libby của ông này. Bà Libby là một phụ nữ dễ chịu nhưng hàm răng hơi chìa ra ngoài.

Trong bức vẽ, Burgess khắc họa gương mặt của bà trông giống như mũi một con tàu chiến xấu xí. Ngay khi vừa nhìn thấy bức vẽ, bà Libby đã hét lên: "Cả đời tôi chưa bao giờ bị xúc phạm như thế này" rồi vùng chạy ra khỏi nhà, trong khi ông chồng cũng đang giận tím mặt.

Guy Burgess trong cuộc phỏng vấn chớp nhoáng ở Moscow.
Guy Burgess trong cuộc phỏng vấn chớp nhoáng ở Moscow.

Trong khi Burgess tỏ vẻ hài lòng với màn chiến thắng trước người Mỹ của mình. Nhưng Philby lại ngồi im lặng, tay ôm mặt nghĩ về điều vừa xảy ra. Burgess vừa tạo ra cho họ một kẻ thù mạnh có thể đánh bật cả anh ta và Philby. Người Mỹ vốn đã không tin tưởng người Anh vì họ nghi điệp viên Liên Xô đã thâm nhập vào Bộ Ngoại giao Anh và tuồn bí mật sang Moscow. Họ đã nói với Philby về sự ngờ vực này mà không biết rằng chính Philby cũng là một điệp viên Liên Xô.

Sau sự cố bức biếm họa, Burgess rơi vào tầm ngắm của CIA. Họ thấy anh ta vào các quán rượu, phòng vệ sinh và đi ăn tối với người Nga. Nhưng anh ta vẫn tiếp tục lối sống bất cẩn. Thông qua Philby, Burgess được mời tới một bữa tiệc cocktail ở Washington và tại đây, anh ta cãi nhau về vấn đề Triều Tiên với Franklin D. Rossevelt Jr, con trai của cố Tổng thống Rossevelt.

Cuộc tranh luận nảy lửa đến mức người ta phải tách Burgess và Roosevelt ra. Roosevelt sáng hôm sau đã giận dữ thuật lại sự việc cho Allen Dulles, Phó giám đốc CIA. Cùng lúc đó, Thống đốc bang Virginia đã gửi thư phàn nàn rằng Burgess thường xuyên vi phạm Luật Giao thông khi chạy quá tốc độ tới 3 lần trong một ngày.

Burgess bị Đại sứ Oliver Franks triệu tập và bị tạm dừng công tác. Anh ta bị đưa về Anh trong nỗi xấu hổ và phải trình diện ban kỷ luật để xem xét khả năng anh ta phải từ chức hoặc bị sa thải. Nhưng anh ta lại viết thư cho một người bạn bảo rằng: Thật tuyệt vời khi được trở về Anh. Nước Mỹ thật khó chịu!

Sống mòn ở Moscow

Trong lúc chờ hình thức kỷ luật, Burgess gặp lại người tình đồng tính lâu năm Jack Hewitt sau 10 tháng xa cách. Hewitt kể lại rằng khi dỡ hành lý cho Burgess, anh ta thấy một tập tiền dày cộp và Burgess bảo là mang từ Mỹ về cho một người bạn. Trong thực tế, đó là số tiền mà Liên Xô đưa cho Burgess để thực hiện một sứ mệnh quan trọng là sắp xếp để điệp viên Donald Maclean trốn khỏi Anh. Maclean được Liên Xô tuyển mộ trước Burgess. Maclean đã leo lên được một số vị trí rất cao trong Bộ Ngoại giao Anh.

4 năm làm nhà ngoại giao ở Washington, Maclean đã tuồn một số bí mật về chương trình vũ khí hạt nhân của Anh và Mỹ về Moscow. Nhưng năm 1950, Maclean bị nghi ngờ và có nguy cơ bị lộ mặc dù Philby đã đánh lạc hướng chú ý của người Mỹ và Anh.

Burgess và cấp trên người Liên Xô đã sắp xếp một kế hoạch khẩn cho Maclean trốn khỏi Anh. Theo kế hoạch, anh ta sẽ đưa Maclean tới một chặng đường nào đó rồi trở lại London tiếp tục như trước kia. Nếu chỉ có Maclean trốn thì cả mạng lưới tình báo Liên Xô trong lòng nước Anh sẽ không bị nghi ngờ. Tuy nhiên, Burgess lại bất tuân mệnh lệnh, trốn luôn cùng Maclean.

Cả hai bị nhốt trong một ngôi nhà nhỏ ở thành phố Kuybyshev, bị nhân viên tình báo Liên Xô canh giữ và thẩm vấn vài tuần liền cho tới khi người Liên Xô tin rằng hai người không phải là điệp viên hai mang. Tháng 2/1956, nhà báo Australia Richard Hughes làm việc cho tờ Sunday Times của Anh ở Moscow trong dịp phỏng vấn Ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Molotov có yêu cầu cung cấp thông tin về Burgess và Maclean.

Trong khi lưu trú tại một khách sạn đối diện Điện Kremlin để chờ đợi câu trả lời, Hughes bất ngờ nhận được một cú điện thoại, người đàn ông ở đầu dây báo: "Làm ơn đến phòng 101". Sau đó, cũng giọng nói đó gọi đến lần nữa: "Đến ngay. Khẩn cấp". Sau này, Hughes kể lại: khi đến phòng 101 ông gặp 2 người đàn ông tiếp đón. Người cao lớn tự giới thiệu "Tôi là Donald Maclean", còn người thấp hơn nói "Tôi là Guy Burgess". Trong phòng lúc đó còn có mặt 3 nhà báo khác - một người từ Hãng tin Anh Reuters và 2 người từ cơ quan thông tấn Nga. Cuộc phỏng vấn diễn ra chớp nhoáng chỉ trong 5 phút.

Sau đó, Burgess và Maclean nhanh chóng rời khỏi phòng. Đây quả là một câu chuyện giật gân: họ còn sống và thật sự họ đã phản bội nước Anh. Thông tin nhanh chóng lan truyền ra thế giới, lôi kéo các nhà báo khác âm thầm "đổ bộ" đến Moscow bất chấp nguy cơ bị Điện Kremlin trừng phạt. 

Vài năm sau, Guy Burgess lấy tên mới là Jim Andreyevitch Eliot (theo tên người ông yêu mến là nữ văn sĩ người Anh George Eliot). Trong khi Maclean thích nghi với cuộc sống mới, bắt đầu học tiếng Nga và có việc làm tại một viện ngôn ngữ học thì Burgess sống cô đơn trong một căn hộ bình thường ở Moscow và chỉ biết tìm vui trong men rượu. Về sau, Burgess chuyển đến sống cùng một căn nhà tiện nghi hơn ở ngoại ô Moscow nhưng vẫn bị nhân viên KGB theo dõi. Burgess sau đó làm việc cho một nhà xuất bản và Bộ Ngoại giao Nga với vai trò chuyên gia phân tích báo chí phương Tây. Ngoài ra, Burgess cũng biên soạn một cuốn sách huấn luyện điệp viên cho KGB, trong đó ông mô tả lối sống của người Anh.

Người Nga thừa biết Burgess là người đồng tính nhưng họ làm ngơ, vì người đồng tính sẽ bị xã hội Xôviết tẩy chay. Trong thế giới đồng tính bí mật ở Nga, Burgess gặp gỡ và trở thành "người tình" của Tolya, một kỹ sư điện tử trẻ tuổi người Nga. Burgess thường xuyên nằm trong sự giám sát bí mật của KGB, căn hộ của ông bị lén cài thiết bị theo dõi và mỗi khi ông ra ngoài phố đều có người theo dõi sát. Trong những bức thư của mình, Burgess kể ông có nhóm bạn thân thiết ở Anh - bao gồm  các nhà văn, nhà thơ, chính khách và những "người tình cũ".

Burgess thừa nhận: "Cuộc đời tôi kết thúc sau khi rời khỏi nước Anh". Burgess luôn hy vọng sẽ có một ngày nào đó được quay trở về Anh, mặc dù điều này không bao giờ xảy ra và chính sự thật này đã khiến ông ta rơi vào trầm uất. Năm 1959, một nhà báo Canada gặp Burgess ở Nga đã mô tả ông ăn mặc vô cùng luộm thuộm và không có vẻ gì là một siêu điệp viên. Burgess hầu như chìm trong men rượu. Ông ta rất khổ sở và mệt mỏi vì chứng đau họng, đau tim và ông từng bày tỏ nguyện vọng: không muốn nằm lại trên đất Nga.

Siêu điệp viên khốn khổ và cùng quẫn

Đầu năm 1960, một người bạn cũ của Burgess, nhà thơ Stephen Spender đến thăm rất ngạc nhiên trước sự tàn tạ của cựu điệp viên. Nhà báo James Morris đến thăm Burgess cũng bày tỏ sự hối tiếc cho "con người khốn khổ". Trong những năm 1960 - 1961, Burgess phải nhập viện do nhiều chứng bệnh như xơ cứng động mạch, lở loét, viêm khớp và suýt chết. Nhưng bất chấp bệnh tình đe dọa tính mạng, Burgess vẫn tiếp tục uống rượu một cách vô độ.

Tâm trạng buồn chán của Burgess lộ hẳn ra bên ngoài. Burgess cũng ít gặp mặt Maclean, ngoại trừ một lần vào năm 1962 trong một trận đấu cricket diễn ra ở Moscow. Nhưng đây cũng chỉ dịp đi chơi bên ngoài bất ngờ của Burgess vì thường thì ông ấy cứ nằm lì trong nhà, hút 60 điếu thuốc lá một ngày và nốc rượu như điên. Một nữ y tá mỗi ngày đến nhà để tiêm thuốc cho Burgess. Cuối tháng 8/1963, Burgess được đưa đến bệnh viện cấp cứu. Trước  khi mất, Burgess được Kim Philby - điệp viên trong nhóm Cambridge đào thoát đến Moscow vài tháng trước đó - đến thăm trong chốc lát.

Đáng buồn hơn vì đây không là cuộc hội ngộ hạnh phúc, bất chấp những năm tháng hai người cùng chia sẻ nhiệm vụ gián điệp với nhau. Cho đến lúc này, Philby vẫn còn bực tức và không bao giờ tha thứ cho Burgess về việc ông bất tuân lệnh mà chạy trốn cùng Maclean đến nước Nga. Bản thân Burgess cũng nhận thức được rằng hành động bỏ chạy của ông và Maclean đã khiến cho tình báo Anh và Mỹ chuyển sang nghi ngờ Kim Philby. Vài hôm sau cuộc viếng thăm của Kim Philby, ngày 30/8/1963, Burgess ra đi vĩnh viễn trong giấc ngủ do suy gan cấp. Năm đó, ông 52 tuổi.

Cái chết của Burgess được thông tin trên khắp thế giới. Tờ nhật báo Nga Izvestia đăng tải cáo phó ngắn chỉ 78 từ dành cho Burgess. Sau đó, KGB lập tức ra lệnh hủy hết mọi tài liệu, giấy tờ trong căn hộ của Burgess. Còn "người tình" Tolya của Burgess thì biến mất tăm và không bao giờ nghe nói đến nữa. Sau khi hỏa táng, lọ đựng tro cốt của Burgess được đưa về nước Anh và chôn trong mảnh đất nhỏ của gia đình ở ngôi làng thuộc hạt Hampshire, nơi ông ta lớn lên.

Nhật Minh - Thiên Minh (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.