“Định mệnh” của Thắm

Nhà văn "Trăm năm cô đơn" Gabriel Garcia Marquez từng viết một câu thế này: "Trí nhớ của trái tim xóa đi những điều xấu và phóng đại những điều tốt đẹp". 

Tôi không biết điều đó có đúng với Nguyễn Thị Thắm khi cô mất 5 năm cho bộ phim tài liệu dài “Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng” hay không? 

Nhưng ký ức của tuổi thơ là điều đầu tiên đánh thức trái tim Thắm, khi cô khởi sự cho bộ phim tài liệu từng trở thành hiện tượng có một không hai này. Và không phải ngẫu nhiên mà bộ phim lại có nhiều chi tiết sống động, chân thực đến thế về thân phận của những người sống bên lề xã hội.

Trong những cuộc trò chuyện trà dư tửu hậu, Thắm hay kể với tôi về ký ức của tuổi thơ tha hương, xê dịch và thiếu thốn. Cô kể với sự hồn nhiên, chân thật như những hoài niệm ngọt ngào hơn là "xót thương" cho quá khứ nhiều gian khó ấy.

Tuổi thơ của Thắm thường trải qua trong những căn nhà tập thể dựng tạm bợ bằng tre cót. Nhà nghèo không có tivi để xem nên anh em cô thường nghĩ ra trò hơ đũa lên lửa cho nóng rồi xuyên thủng cót tre để xem trộm tivi nhà hàng xóm, xong rồi lấy giấy báo dán vào. Có khi chuyển đến nhà hàng xóm dễ tính, họ cho khoét hẳn một cái lỗ bằng hai bàn tay, che bằng tấm bìa cứng, khi có chương trình hoặc phim gì hay lại lật lên xem. 

Thế giới phim ảnh hào nhoáng trên những chiếc tivi nhỏ bắt đầu đến với Thắm như thế và mở ra ô cửa nhỏ để nhìn ra cuộc sống bên ngoài. Nhưng rồi đời sống tập thể  chung đụng hay xích mích, nên những ô nhỏ ấy cũng không tồn tại được lâu.

Lớn hơn một chút, sự mơ mộng của Thắm đến từ những cuốn truyện cũ kỹ và cô thường bật đèn pin đọc trong chăn để mơ ước một ngày được... cận thị cho có vẻ trí thức.

Vì bố mẹ đi làm công trường thủy điện cả ngày, nên từ bé, Thắm đã được giao trọng trách lo bữa ăn cho cả gia đình. Một ngày chỉ có 10.000 đồng, sau vật giá leo thang thì lên được 20.000; cô học trò mới 9, 10 tuổi ấy phải chu toàn 2 bữa chính cho cả nhà. 

Để tăng thêm thu nhập, bố mẹ cô còn nấu rượu nuôi lợn. Công việc nặng nhọc ấy cũng vào tay Thắm khiến cô trở thành một người "thẩm rượu" từ bé và trở thành "bợm nhậu" sau này.

Thắm lớn lên hồn nhiên như cây cỏ trong những khu nhà tập thể của công trình thuỷ điện, những nơi thường là tận cùng của đường sá, ở giữa rừng núi, sông suối. 

Đôi lúc, Thắm còn khiến chúng tôi bật cười ha hả khi kể bọn trẻ trong làng cô thường đi vệ sinh bằng lá cây rừng, thậm chí... cạ vào gốc cây sau khi đi vệ sinh xong. Ước mơ thời mới lớn của cô thiếu nữ Nguyễn Thị Thắm là được ở trong căn nhà có nhà vệ sinh riêng và nước bơm vào tận nhà...

Rồi Thắm rời bỏ vùng đất Tây Nguyên để về Sài Gòn. Thắm vào trường Sân khấu Điện ảnh sau khi không đủ tiêu chuẩn vào trường Công an hoặc Sư phạm - hai ngôi trường mà cô mơ được học vì không phải đóng học phí, ra trường lại có việc làm ổn định và thêm một chút sở thích riêng là... phân tích tâm lý tội phạm. 

Thời gian đầu học ở Sài Gòn, tiền nhà gửi về không đủ, Thắm bươn chải làm đủ nghề để kiếm sống, kể cả làm bồi bàn. 

Có những ngày làm bồi bàn trong quán phở Nhật, Thắm phải leo lên leo xuống 5 tầng lầu, về đến nhà trọ 2, 3 giờ sáng trong trạng thái kiệt sức. Niềm vui của cô lúc ấy là sau mỗi buổi làm, được mang những miếng xương "bốc mả" và nước hầm dư về cho những cô bạn cùng phòng chấm bánh mì hoặc nấu mì tôm rồi xì xụp ăn uống nửa đêm về sáng. 

Công việc làm bồi bàn phục vụ chỉ chấm dứt khi Thắm đi học khóa điện ảnh Varan (2005). Thời điểm đó, mỗi học viên học Varan được chu cấp 5 triệu đồng mỗi tháng. Đó là lần đầu tiên trong đời Thắm được cầm một số tiền lớn như thế và tay run bần bật vì vui mừng. 

Năm đó về thăm nhà ở Gia Lai, cô mua ngay bộ bếp gas cho gia đình để khỏi phải đun bằng bếp củi. Thắm vẫn nhớ cái cảm giác tự hào, có chút vênh váo với hàng xóm khi cô sinh viên đi học xa nhà mua được bếp gas về cho bố mẹ.

Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP Hồ Chí Minh, Thắm từng đi viết kịch bản phim truyền hình, làm trợ lý đạo diễn, thậm chí đóng vai quần chúng không bao giờ thấy mặt trong những bộ phim truyền hình dài tập. 

Có thời điểm bế tắc và chán nản với công việc làm phim truyền hình tạm bợ, cô thay số điện thoại, tránh tiếp xúc bạn bè, sống ẩn dật để theo đuổi công việc làm phim tài liệu sau khóa học Varan. 

Thắm nói khóa học ấy đã thay đổi cô rất nhiều. Ngày nhỏ sống ở những khu nhà tập thể công trường, đi học thì làm phục vụ trong những môi trường phức tạp, cô thường chứng kiến nhiều mặt trái và sự bất công hơn là nhìn thấy sự tốt đẹp. 

Thậm chí, đôi lúc cô còn hơi hằn học hay khắt khe khi nhìn cuộc sống hay đánh giá người khác. Chỉ đến khi gặp gỡ những người thầy, người bạn tri thức, nhân văn và vị tha ở khóa học này, cô mới khám phá ra một thế giới tươi đẹp khác về tâm hồn cũng như hiểu thêm về điện ảnh. 

Trước đó, thậm chí ngay cả khi đăng kí học điện ảnh, cô còn chưa phân biệt được sân khấu với truyền hình, phim truyện khác nhau như thế nào, ngôn ngữ điện ảnh là thế nào. Khái niệm phim tài liệu thậm chí còn xa lạ hơn. Và Thắm mang những cái nhìn mới mẻ ấy, tâm hồn được "khai sáng" ấy để đến với Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng.

Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng, bộ phim tài liệu dài của Thắm được bắt đầu sau khóa học phim tài liệu trực tiếp và được tiếp sức bởi những người thầy cô của Varan. 

Nhưng cho dù có được những lợi thế ban đầu ấy, hành trình "ba cùng" (ăn cùng, ở cùng, ngủ cùng) với đoàn lô tô hội chợ của chị Phụng trong nhiều tháng trời để quay những hình ảnh sống động, chân thực nhất và những ngày tháng trần ai để xin tài trợ, bế tắc về tiền bạc, trầm cảm vì dàn dựng hậu kỳ... gần như chỉ một mình Thắm chịu đựng.

"Tuổi thơ của tôi là những tháng ngày rong ruổi cùng với bố mẹ trên những công trình thủy điện lớn của nhà nước. Chúng tôi sống nay đây mai đó, trong những lán trại dựng tạm, không xa công trường. Thỉnh thoảng có đoàn hội chợ ghé qua, mang đến những trò giải trí phá đi sự đơn điệu hàng ngày... Khi tôi gặp đoàn hội chợ của chị Phụng, ký ức tuổi thơ trỗi dậy. Tôi đã mải mê với những chuyến đi của đoàn, đến với những vùng nông thôn hẻo lánh, từ Nam Trung Bộ đến Tây Nguyên đất đỏ".

Nguyễn Thị Thắm mở đầu bộ phim bằng những dòng tự sự như thế, qua giọng dẫn chuyện chậm rãi, từ tốn và có chút thản nhiên của cô. Và rồi, không phải đợi lâu, cô dẫn dắt người xem vào những chuyến hành trình rày đây mai đó của đoàn lô tô hội chợ; gặp gỡ những người "pê đê bóng gió" để chứng kiến những tình thế oái oăm trong câu chuyện sinh tồn và "được sống là mình" của họ. 

Gần như không có một vỏ bọc nào, không có một sự đề phòng nào cần phải che giấu, họ chia sẻ những câu chuyện của cuộc đời họ, chấp nhận thân phận của mình như một "kiếp nạn", một nghiệp chướng (karma) phải trả nợ cho kiếp trước.

Tôi nhớ đoạn kết phim, chị Phụng nằm trên chiếc võng đung đưa và hát một ca khúc bolero với những ca từ sầu muộn: "Một mùa ái ân mình vui mấy lần. Giờ thì đớn đau trọn một số kiếp". 

Phía trước chị, những nhân viên đang tháo dỡ sân khấu, sắp xếp đồ đạc để tiếp tục cuộc hành trình trong đêm đến tỉnh lị khác. Trên bãi đất trống, những đám rác vương vãi được họ thu dọn và đốt thành từng đống lửa nhỏ. Và tiếng chị Phụng lại cất lên nghe não nề: "Còn gì nữa đâu mà khóc với sầu".

Tiếng hát ấy phải chăng như dự báo cho đoạn kết của chị? Giọng dẫn chuyện của Thắm một lần nữa chậm rãi vang lên trên nền đen của màn hình, với thủ pháp tiếng ngoài hình: Chuyến đi của chị Phụng sắp đến chặng cuối. Mấy tháng sau khi tôi đóng máy, chị Phụng và chị Hằng đã qua đời tại bệnh viện ở Sài Gòn".

Khi xem bộ phim này, tôi chợt nhớ tới lời nhận xét của một nhà phê bình quốc tế: "Đó không phải là câu chuyện về người đồng tính. Đó cũng không phải là câu chuyện về người dị tính. Đó là câu chuyện về thân phận con người".

Có lẽ ngay bản thân Thắm, người khởi sự chuyến hành trình đến với đoàn hội chợ, vì "muốn phóng đại những điều tốt đẹp của ký ức tuổi thơ" như câu nói của Marquez cũng không ngờ rằng bộ phim lại để lại nhiều nỗi buồn, sự day dứt và thay đổi cô đến vậy. 

Nhưng tôi thì tin rằng, cái ký ức tuổi thơ ấy và thậm chí ngay cả cái tên riêng chất phác của cô luôn gắn liền với những câu chuyện về thân phận con người, đặc biệt là những con người khốn khó vì sinh tồn nhưng không bao giờ đầu hàng hoàn cảnh. 

Trong giai đoạn chờ tiền tài trợ để tiếp tục làm bộ phim Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng, Thắm từng tham gia một dự án làm phim ngắn về đề tài giao thông của hãng Blue Productions do nữ diễn viên Hồng Ánh làm giám đốc. 

Xe ôm, bộ phim ngắn của Thắm trong dự án "1735km++" kể về một người phụ nữ lớn tuổi làm nghề lái xe ôm ở bến xe để nuôi cháu ăn học cũng khiến tôi ngạc nhiên về khả năng kể chuyện của Thắm. Đặc biệt là cách cô "thôi miên" nhân vật để họ kể ra những điều gan ruột mà không hề quan tâm đến chiếc máy camera đang thu hình ở đâu đó.

Khác với một Nguyễn Thị Thắm đạo diễn xông pha lăn lộn theo nhân vật để ghi bằng được những hình ảnh chân thực nhất, Nguyễn Thị Thắm của đời thường phần nào... giống như cái tên của cô, cái tên mà tôi hay nói đùa là chất phác nhất trong làng điện ảnh Việt Nam. Khi không phải làm gì, cô chỉ ăn và ngủ như một bà hưu trí non. 

Những chầu nhậu nhẹt có thể kéo dài đến 2, 3 giờ sáng và ngủ suốt cả ngày hôm sau. Và ngoài làm phim, gần như cô không có một tài lẻ gì khác. Mấy ông nhạc sĩ sáng tạo ra 7 nốt nhạc, Thắm chỉ hát đúng một nốt không lên không xuống. 

Những lần mang phim đi chiếu ở nước ngoài, mỗi lần cô phát biểu bằng tiếng Anh là cả cử tọa đều đứng hình vì không ai hiểu cô nói gì. Được cái, cô không mấy tự ti về những nhược điểm của mình và vẫn hồn nhiên hát, chèn tiếng Anh trong các lần trò chuyện và vẫn khiến thiên hạ "đứng hình" vì sự tự tin của mình.

3 năm sau Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng, Thắm vẫn chưa bắt tay vào một dự án điện ảnh tài liệu nào mới mà vẫn đủng đỉnh sống, lâu lâu làm một vài dự án phim quảng cáo để kiếm tiền.

Thắm có một cô bạn thân làm ca sĩ, sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, chỉ cách vài tiếng đồng hồ; vậy mà cả hai khác xa nhau một trời một vực, từ tính cách đến số mệnh.

Tôi hay gọi đùa đấy gọi đấy là "Định mệnh của Thắm". "Định mệnh" của một kẻ thích "phóng đại những điều tốt đẹp trong cuộc sống" và thích sống ung dung tự tại như một người đã hưu trí. 

Nhưng biết đâu, đấy là giai đoạn mà cô "ủ mưu" cho một dự án điện ảnh khác và lại lăn lộn xông pha với nhân vật của mình mà không cần phải khoác lên một "vỏ bọc" hào nhoáng nào.

Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng của đạo diễn Nguyễn Thị Thắm từng tham dự LHP tài liệu nổi tiếng Cinéma du Réel lần thứ 36 Paris. Bộ phim dài 86 phút này được tuyển chọn trong phần thi quốc tế phim đầu tay. Phim cũng tham dự gần 10 LHP quốc tế khác tại Indonesia, Đài Loan, Philippines, Luang Prabang...; và được trình chiếu ở nhiều nơi trên thế giới như Paris, Nimes, Lyon, Marseille (Pháp), Phần Lan, New York (Mỹ).

Trên trang Rottentomatoes, một trang tập hợp những bài bình luận điện ảnh uy tín của Mỹ, Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng có 5 bài bình luận, cả năm đều dành số điểm tuyệt đối 10/10, trong đó có những bài trên các tờ báo nổi tiếng như New York Times, The Village Voice hay Chicago Reader.

Tại Việt Nam, bộ phim được hãng phim Blue của diễn viên Hồng Ánh phát hành độc lập và tạo nên một cơn sốt chưa từng có với phim tài liệu trước đây. 

Lâm Lê

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.