Đi tìm bản chất thực sự của Taliban

Từ năm 1997 đến nay, các nhà phân tích  chính trị luôn đặt câu hỏi về bản chất thực sự của phong trào Taliban, về các quyết định chính trị của nó, về mối quan hệ của Taliban với các mạng lưới tôn giáo ở Pakistan và các trào lưu khủng bố quốc tế.

Hệ tư tưởng của Taliban chính xác là chủ nghĩa dân tộc Pashtun với một tham vọng về quy mô và về lãnh  thổ khá hạn chế, nhưng lại có một sức chống trả bền bỉ và một khả năng hồi sinh rất ghê gớm, giống như tất cả những trào lưu mang sắc thái dân tộc chủ nghĩa.

h1.jpg -0
Mullah Mohammad Omar (1960-2013), người sáng lập và là thủ lĩnh Taliban, "Chủ tịch Hội đồng Tối cao Afghanistan" từ 1996-2001.

Những ngộ nhận và nhầm lẫn về đối thủ

Trên các phương tiện truyền thông, Taliban thường được mô tả như là một phong trào cuồng tín kiểu Hồi giáo Wahhabi. Các nhà nghiên cứu khi phân tích các quyết định chính trị của Taliban thường nhìn qua lăng kính Hồi giáo, vì thế họ cho rằng có quá nhiều điểm tương đồng trong các văn bản của Hồi giáo Wahhabi và những hành động thực tiễn của Taliban: truy sát những người Hồi giáo dòng Shia, đối xử nghiệt ngã đối với phụ nữ...

Cách nhìn nhận này đã  bỏ qua một yếu tố vô cùng quan trọng: nền văn hóa đặc thù của người  Pashtun. Trên thực tế văn hóa Pashtun hoàn toàn khác với văn hóa của nhóm các tộc người ở Trung Á và càng khác xa với những tộc người khác ở Trung Đông. Đúng là trong quá khứ có một số nhân vật lãnh đạo Afganistan như Heykmatyar hay Rabbani chịu ảnh hưởng của trào lưu salafiste (Đi theo) hay của Tổ chức Anh em Hồi giáo (những trào lưu gần gũi với chủ nghĩa Wahhabi), nhưng trong thập niên 90, Taliban của Mullah Omar đã công khai đối đầu với những nhân vật này.

h3.jpg -0
Các madrassas (không chính thức) ở Pakistan là nơi duy nhất cung cấp cơ hội giáo dục cho hàng nghìn trẻ em tị nạn Afghanistan.

Taliban không phải là một phong trào Hồi giáo với một hệ tư tưởng mang tầm vóc quốc tế, những nguyên nhân sắc tộc và bộ lạc là yếu tố chính định hướng cho những hoạt động chính trị, quân sự cũng như việc xác lập các nền tảng đạo đức của nó. Sự đối đầu với những người Hồi giáo Shia Hazaras không phải là một cuộc chiến tranh tôn giáo giữa hai nhánh Hồi giáo mà là một cuộc chiến tranh giữa hai nhóm sắc tộc đã có một lịch sử hàng trăm năm xung đột. 

Nếu như Hồi giáo Wahhabi gần như là một công cụ để hợp pháp hóa và củng cố quyền lực của chế độ Saud ở Ảrập Xêút thì hiện tượng tương tự như vậy hoàn toàn không có ở Afghanistan. Tháng 8-1998, Hoàng tử Ảrập Xêút Turki đã đến Afghanistan để yêu cầu Mullah Omar dẫn độ Osama bin Laden về Ảrập Xêút để đối diện với những cáo buộc chống lại ông ta. Khi đó, vị hoàng tử đã không biết rằng mình đang yêu cầu một điều vi phạm tới một trong những luật quan trọng của người Pashtun: Lòng hiếu khách.

Việc một người Pashtun phải giao nộp một vị khách là một điều vô cùng nhục nhã, vì thế yêu cầu giao nộp Bin Laden của Ảrập Xêút là một sự xúc phạm rất lớn đến danh dự của Omar. Để đáp trả, dường như Omar cũng đã xúc phạm vị hoàng tử này. Quan hệ giữa Hoàng gia Saudi và Taliban cũng đổ vỡ từ đấy. Sự kiện này cho thấy Wahhabi không thể quan trọng với Taliban bằng những truyền thống Pashtun.

Nguồn gốc của tên gọi Taliban

Taliban chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào Deobandi, Mullah Omar đã từng tuyên bố rằng ông ta và những chiến binh Taliban nguyện sẽ tuân theo những huấn thị của phong trào này.

h2.jpg -0
Một madrassas ở Pakistan.

Deobandi là một dòng thần học xuất hiện trong nửa sau của thế kỷ 19, thời kỳ Ấn Độ còn nằm dưới sự cai trị của Anh, mục tiêu của phong trào này là tạo ra một tầng lớp Hồi giáo có học thức, có khả năng tranh luận về các vấn đề tôn giáo, đạo đức, chính trị và xã hội để làm đối trọng với giới tinh hoa thân phương Tây.

Trào lưu Hồi giáo Deobandi được dạy trong các madrassa (một loại học viện Hồi giáo), thiết lập tại tiểu lục địa Ấn Độ. 10 năm sau khi thành lập (1867),  Deobandi đã có 12 cơ sở giáo dục và sau một thế kỷ đã có hơn 9.000 cơ sở. Sau khi nhà nước Pakistan được thành lập, Deobandi đã trở thành  hệ tư tưởng hàng đầu của các phong trào Hồi giáo Pakistan. Deobandi cũng duy trì mối quan hệ chặt chẽ với đảng Jamiat-i-Ulema-e-lslam, một đảng chính trị tôn giáo lớn ở Pakistan. Bản thân Taliban cũng có mối liên kết chặt chẽ với đảng này.

Dưới  chế độ độc tài quân sự của Tổng thống Zia uf HaqD, hệ thống madrassa, nơi đào tạo những người trung thành với hệ phái Deobandi, đã phát triển ồ ạt ở Pakistan. Từ năm 1971 đến năm 1988, số lượng madrassa chính thức tăng vọt từ 900 lên 8.000 cùng với hơn 25.000 madrass không chính thức khác. Có một vài yếu tố để giải thích sự bùng phát này: madrassas là hệ thống giáo dục truyền thống đã có mặt ở Afghanistan trước khi những người cộng sản lên nắm quyền. Sau khi những người cộng sản đóng cửa các madrassas Afghanistan (1979) để thiết lập một hệ thống giáo dục thế tục, các madrassas đã chuyển sang các vùng Pashtun của Pakistan để hoạt động trở lại.

Pakistan coi mạng lưới madrassas là một tuyến phòng thủ hiệu quả chống lại Liên Xô và Ấn Độ. Song song với việc truyền thụ kiến thức tôn giáo, madrassas cũng huấn luyện những người Pashtun trẻ tuổi tham gia chiến đấu. Một phần của chương trình giáo dục giảng dạy trong madrassas liên quan tới việc huấn luyện sử dụng vũ khí. Cần nhớ lại rằng việc sử dụng vũ khí là  truyền thống phổ biến ở các bộ lạc Pashtun và người dân trong bộ lạc luôn được kêu gọi sử dụng  vũ khí để bảo vệ tài sản và bộ lạc của họ. Lợi ích cuối cùng: các madrassas là nơi duy nhất cung cấp cơ hội giáo dục cho hàng nghìn trẻ em tị nạn, thường là mồ côi, công việc mà các cơ sở giáo dục chính thức ở Pakistan không thể gánh vác được.

Chính trong bối cảnh đó, "Taliban” đã hình thành và phát triển. Họ là một thế hệ trẻ em Afghanistan sinh ra trong những năm 1970 và 1980, bị tách rời khỏi nguồn gốc bộ tộc và được xã hội hóa thông qua một hệ thống tư tưởng được các các mullah (chức sắc) trong làng dạy dỗ, bản thân các mullah cũng học hành dở dang. Hệ tư tưởng của các mullah (chức sắc) này, mặc dù được xem là lấy cảm hứng từ trường phái Deobandi, nhưng thực tế là khác xa với cách tiếp cận thần học ban đầu của phong trào này. Cách giải thích của các mullah về luật Sharia về cơ bản là theo truyền thống Pashtun. Do đó, chính kiến của các chiến binh Taliban sẽ khác hẳn những người Hồi giáo  Afghanistan khác được giáo dục chu đáo ở Ai Cập hoặc Ảrập, như Heykmatyar và Rabbani.

Đội quân Taliban mà Mullah Omar thành lập vì vậy khác biệt hoàn toàn với các phong trào Sufi cũng như các mạng lưới chính trị truyền thống của các tù trưởng. Đạo Hồi của các chiến binh Taliban là một thứ hỗn hợp giữa truyền thống bộ lạc Pashtun và một thứ chủ nghĩa Deobandi đã bị thô thiển hóa và biến dạng đi vì những mục đích chính trị. Tuy nhiên những thực hành tôn giáo của lực lượng này vẫn đủ thích ứng để áp dụng cho quần thể bộ lạc trong thế giới Pashtun.

Khi còn sống, thủ lĩnh Mullah Omar đã nhiều lần kêu gọi mạng lưới madrassas hỗ trợ họ trong cuộc chiến, mỗi lần như vậy sẽ có hàng ngàn sinh viên từ các madrassas gia nhập Taliban để hưởng ứng lời kêu gọi của Omar. Cần lưu ý rằng chính tầng lớp giáo sĩ Pashtun, những người đang giảng dạy cho các thanh thiếu niên trong các madrassas, đã nhất trí chọn Omar làm thủ lĩnh của họ. Phần lớn những sinh viên này là người Pashtun, nhưng cũng có một số ít là người “nước ngoài” (Uzbek, Tajik, Punjabi,...). Dần dần thông qua vai trò trung gian của các madrassas, các lực lượng thánh chiến ủng hộ chủ nghĩa Hồi giáo quốc tế đã đến gia nhập Taliban. Điều quan trọng là cần nhận ra sự khác biệt rất rõ ràng giữa lực lượng liên kết với Taliban và lực lượng liên kết với Al-Qaeda. Taliban chỉ có mục đích áp đặt chủ nghĩa Hồi giáo kiểu Pashtun trong lãnh thổ Afganistan trong khi phong trào Al-Qaeda lại muốn áp đặt Hồi giáo Salafist ở cấp độ quốc tế. Taliban, dẫu đã truyền cảm hứng rất mạnh cho các phong trào Hồi giáo Trung Á và cả ở Pakistan, nhưng mục tiêu của nó về cơ bản vẫn bị giới hạn về mặt địa lý và dân tộc.

Taliban - đội quân sắc tộc của những vùng quê nghèo

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, các madrassas cung cấp khoảng 30% các tay súng cho đội quân Taliban của Mullah Omar, tức là vào khoảng 10.000 chiến binh ở vào thời điểm đó. Lực lượng này không có những khả năng hay kỹ năng của một đội quân tác chiến thông thường bởi vì họ không thể ở lâu trong các vị trí chiến đấu của mình. Ngoài các lực lượng đến từ madrassas, Taliban cũng bổ sung bằng các tay súng đến từ các lashkar.

Lashkar là những tổ chức quân sự tạm thời do các nhà lãnh đạo Pashtun lập nên, một tổ chức dành cho những cá nhân chưa thật sự đến tuổi trưởng thành, họ tham gia vào đây như một hình thức nghĩa vụ quân sự, những lực lượng này chưa được xem là những người lính chuyên nghiệp và họ sẽ giải tán để trở về quê quán sau khi những cuộc giao tranh kết thúc.  Những mullahs Pashtun rất biết cách huy động thanh thiếu niên vào các cuộc giao tranh, gia nhập lashkar như là một nghi thức để vào đời. Kinh nghiệm chiến đấu cho phép các thiếu niên Pashtun khẳng định mức độ trưởng thành của họ trong con mắt của bố mẹ, ông bà và cộng đồng. Chỉ có thông qua việc cầm súng, họ mới được chấp nhận như một thành viên bình đẳng của cộng đồng. Chính vì vậy, lời kêu gọi tham gia vào các cuộc chiến đấu mà các chức sắc tôn giáo đưa ra luôn có sức lôi cuốn với thanh thiếu niên Pashtun bởi nó đem lại sự công nhận xã hội và những lợi ích tài chính đi kèm.

Ở Afghanistan và vùng Pashtun của Pakistan, những nhà lãnh đạo tôn giáo luôn tích cực tham gia hoạt động chính trị, đặc biệt là sau khi Liên Xô đưa quân vào Afghanistan. Những lúc đó, vai trò của họ là gắn kết các bộ lạc với nhau, tạm thời gạt bỏ các xung đột để chống kẻ thù chung. Điểm đặc thù ở Afghanistan là các trào lưu chính trị và tôn giáo luôn được dẫn dắt bởi các nhân vật lãnh đạo “sắc màu sặc sỡ”. Sự khác biệt giữa các trào lưu này không đến từ ý thức hệ hay cương lĩnh chính trị mà chủ yếu đến từ phẩm chất cá nhân của người lãnh đạo. Sức mạnh thu hút của từng nhà lãnh đạo nằm ở việc quần chúng có nhìn thấy ở họ những nét gì “tương đồng” với “nhà tiên tri” (của Đạo Hồi) hay không, đó chính là những yếu tố để hợp thức hóa và đảm bảo cho quyền lãnh đạo của họ.

Trên thực tế chẳng có gì khác biệt giữa các cương lĩnh của các thủ lĩnh khác nhau ở Afghanistan, giữa Rabbani, Heykmatyar hay Omar, tất cả đều muốn áp đặt luật Hồi giáo hà khắc Sharia trên đất nước này. Nếu Omar khác Heykmatyar chẳng qua là vì Omar là một người đơn giản, Heykmatyar - một người phức tạp, còn Omar khác Massoud đấy là vì một người thuộc bộ tộc Pashtun, một người thuộc bộ tộc Tajik. Sự khác biệt lớn nhất khiến Omar và phong trào Taliban đã chiến thắng các thủ lĩnh Afghanistan khác có lẽ chính là đặc điểm xuất thân từ các vùng quê Pashtun nghèo khó, nơi học vấn không đóng vai trò quan trọng mà sự táo bạo hay lì lợm trong hành động mới là yếu tố quyết định.

Dương Thắng

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.