Đào liễu hắt hiu

Xin mượn câu hát theo điệu Đào liễu để nói về cảnh buồn tẻ của chiếu Chèo đương đại. Có một thực tế rất "đau" nhưng mà là cách để các nghệ sĩ Chèo yêu nghề sống được với nghiệp, đó là đi hát Văn trong các buổi lễ hầu đồng Đạo Mẫu...

“Xin mượn câu hát theo điệu Đào liễu để nói về cảnh buồn tẻ của chiếu Chèo đương đại. Có một thực tế rất "đau" nhưng mà là cách để các nghệ sĩ Chèo yêu nghề sống được với nghiệp, đó là đi hát Văn trong các buổi lễ hầu đồng Đạo Mẫu. Ở đó giọng hát của họ được trân trọng, lại có thêm thu nhập. Bằng cách đó, họ vẫn sống được để theo nghề hát" - Nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Thắng đã kể như vậy về nỗi niềm của người nghệ sĩ khi sân khấu nghệ thuật dân tộc bước vào cảnh “chợ chiều” trong kỷ nguyên số hóa.

Vang bóng một thời

“Ngày hai lượt đi về qua rạp Đại Nam, “thánh đường” khi xưa của sân khấu hát kịch Thủ đô thập niên 80- 90, trong tôi lại hiện về ký ức những tháng ngày cũ “mê mệt” với các vở chèo kinh điển như “Quan Âm Thị Kính”, “Lưu Bình - Dương Lễ”, hay vở mới như “Bài ca giữ nước”, “Ngọc Hân công chúa”... do nghệ sĩ Tào Mạt, Doãn Hoàng Giang biên dựng. Hồi ấy các rạp như Đại Nam, Công Nhân, Chuông Vàng, Kinh Đô, Bắc Đô, Bạch Mai... đèn đuốc sáng rực hằng tối. 

Đã thành lệ, cứ vào cuối tuần, gia đình tôi lại sửa soạn tươm tất từ chiều, cơm tối thật sớm để còn kịp làm cuốc xích lô đến rạp, hòa vào dòng người xem kịch đông như trẩy hội. Đó là một nhu cầu sinh hoạt không thể thiếu của nhiều gia đình Hà Nội lúc bấy giờ. 

Trong cảnh nghèo khó thời hậu chiến nhưng người dân Thủ đô vẫn dành sự đam mê cuồng nhiệt cho bộ môn nghệ thuật truyền thống này” - ông Nguyễn Mạnh Thắng (nhà nghiên cứu văn hóa dân gian) mở đầu câu chuyện.

Cảnh diễn trong một vở chèo.
Cảnh diễn trong một vở chèo.

Ông Thắng cho biết đó là thời “hoàng kim” của chèo, bắt nguồn từ nhu cầu thực tế về văn hóa thuần phác, chưa đa dạng và biến động như ngày nay. Cũng bởi phong trào văn hóa văn nghệ thời bao cấp được phát triển rộng tới từng cơ sở hành chính. Chèo là một loại hình nghệ thuật để đi biểu diễn và thi thố ở khắp các tỉnh, thành phía Bắc lúc bấy giờ. 

Tính đơn giản, sự mộc mạc của chèo thấm sâu vào đời sống tinh thần ở các làng xã, địa phương. Ở khắp vùng Đồng bằng Bắc Bộ, nơi đâu cũng có đội văn nghệ mà nòng cốt là chèo. Từ đó hình thành đoàn chèo các tỉnh như Đoàn chèo Ninh Bình, Hải Dương, Thanh Hóa, Bắc Giang, Hưng Yên. Trong đó, mạnh nhất phải kể tới Đoàn chèo Thái Bình, vùng đất vốn là cái nôi của nghệ thuật chèo Việt Nam. Một thế hệ các nghệ sĩ, nhà biên kịch cũng từ thời kỳ này mà xuất hiện và tỏa sáng. 

Về biên kịch, các cụ Trùm Thịnh (tức cụ Nguyễn Văn Thịnh), cụ Cả Tam (tức cụ Trịnh Thị Lan), cụ Cả Mược ở Ninh Bình, nghệ sĩ Trần Bảng của Đoàn chèo Hải Phòng, cụ Tào Mạt ở Đoàn chèo Tổng cục Chính trị... là những nghệ nhân đóng vai trò tiếp dẫn truyền nối chèo cổ tới thời đó. Về nghệ sĩ, có các bậc tài danh như cụ Vũ Thị Tý trong các vở “Quan Âm Thị Kính”, “Tuần ty đào Huế”; nghệ nhân Kiều Bạch Tuyết trong vai “Thị Mầu lên chùa”... cùng thế hệ nghệ sĩ tiếp nối cho đến ngày nay, như NSND Thanh Hoài, NSƯT Thu Hiền (Nhà hát Chèo Hà Nội), NSƯT Thanh Loan (Nhà hát Chèo Việt Nam), NSƯT Mạnh Thắng (Nhà hát Chèo Hải Dương), các nghệ sĩ Thúy Ngần, Thanh Ngoan...

Trong sự thịnh hành của chèo những năm tháng ấy, có “công” rất lớn của Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông Thắng kể: “Trong chuyên mục "30 phút dân ca và nhạc cổ truyền" trên sóng phát thanh Tiếng nói Việt Nam, chèo luôn là loại hình chính. 

Nhờ độ “phủ sóng” qua hệ thống loa truyền thanh mà làn điệu chèo len lỏi vào mọi ngóc ngách làng quê Việt Nam suốt những năm ròng chiến tranh và thời kỳ hậu chiến. Đồng thời khai sinh ra lối chèo hiện đại. Dựa trên các làn điệu cũ nhưng lời thơ ý hát được làm mới, bám sát nhiệm vụ chính trị, văn hóa đương thời. Nhiều bài chèo mới như “Bài ca năm tấn”, “Mùa xuân ơn Đảng”, thậm chí có cả bài chèo ca ngợi anh Yuri Gagarin bay vào vũ trụ của Liên Xô”.

Hát như nói, nói như hát

Phân tích về tính dân tộc đặc sắc của chèo, NSND Thanh Hoài nói: “Chèo là loại hình nghệ thuật thấm sâu vào đời sống dân dã, đặc trưng của nền văn hóa nông nghiệp thời vụ. Đó thực chất là một loại hình hát - nói rất gần gũi với đời sống của người Việt. Hát như nói, nói như hát, bởi thế mà nghệ thuật chèo có tính phổ biến rộng trong đời sống nhân dân. Có thể nói, không một xóm làng nào ở Đồng bằng Bắc Bộ lại không có tiếng hát chèo”.

Theo NSND Thanh Hoài, chỉ cần đôi chiếu hoa trải giữa sân đình, mấy ngọn đuốc, dăm mành liếp thưa, vài nhạc cụ, như nhị, sáo, trống, đàn thập lục, đàn tranh hay đàn bầu... là đã thành sân khấu chèo. Tính ước lệ của chèo thật tinh diệu vô cùng. 

Trên chiếu chèo đôi khi hiện ra là cảnh sông nước núi non qua lời hát tự sự, lúc là bến thuyền, gốc đa mái đình xa vắng hiện ra qua cử chỉ điệu bộ khi hát. Sân khấu chèo chuyển cảnh biến ảo, lúc nhịp phách đảo lên, khi trống dồn cảnh đổi. Âm thanh nhạc cụ tạo cảm giác chuyển. Đôi lúc là điệu bộ diễn xuất tạo nên tính đồng hiện về không gian, tình cảm đa chiều. Làn điệu chèo có khoảng 150 lối hát từ cổ tới nay nhưng biến thể của chèo thì thật vô cùng.

Nhà nghiên cứu nghệ thuật dân gian Đàm Minh cho biết, cái hay của chèo là vẫn những câu chuyện đó, tích cũ đó nhưng lối hát, lối diễn của từng nghệ sĩ lại làm nên sự phong phú đặc biệt riêng nên đi xem chèo, nghe chèo cũng là xem các đào, các kép diễn xuất. Nó cho thấy một thẩm mỹ vô cùng tinh tế và thuần hậu với nghệ thuật thưởng thức đặc trưng của một vùng văn minh lúa nước Việt Nam. 

Nghệ thuật chèo cũng tạo nên các tích trò khiến người xem khoái hoạt, gần gũi với đời sống thực vô cùng nên không nhàm chán. Các tích trò hề, thầy bói, thầy cúng với tính trào lộng, hài hước và bất quy ước gây nên những ngạc nhiên thú vị, kể cả về nội dung và hình thái biểu diễn. 

Nghệ thuật chèo đã phản ánh toàn bộ cuộc sống, các giai tầng cũng như khái quát hóa toàn bộ xã hội với các giá trị của xã hội ấy trong nghệ thuật trình diễn của chèo. Vì thế chèo có đủ sức chứa và tồn tại như một trong nhiều loại hình biểu diễn của người Việt một cách thật sinh động và biểu cảm. 

Ông Minh kể hiện nay ông vẫn đi xem và nghe chèo, đặc biệt thích thú với sự diễn xuất điêu luyện và sáng tạo ở các vai hề chèo, phù thủy hay sứt môi. Chèo đưa tới sự đa dạng cá tính đó, ngân nga hát nó với các cung bậc từ tự sự, kể chuyện giãi bày tới ca ngợi hào hùng. 

Xem một vở chèo, nếu chỉ nói tới tính nhạc điệu hay các cung bậc nghệ thuật thuần túy là thanh âm thì quả là một bữa tiệc cho thính giác. Như thường lệ, các vở chèo ở thập niên 80, 90 diễn trong sân khấu có cấu trúc kiểu Pháp xây thì nhạc công chèo ngồi ngay dưới nhìn diễn viên và chơi nhạc. Thật là một đặc ân nếu được ngồi ở các hàng ghế đầu, nhìn thấy nhạc công, nghe thấy nhạc thật gần và xem diễn viên ngay sát mình.

Vốn cổ “thoi thóp”

Nghệ sĩ chèo Khắc Tư lý giải: "Giờ thì mấy ai còn tới sân khấu nghe hay xem một vở chèo nữa. Hình như nghệ thuật biểu diễn khó quá, kỳ công quá nên cũng cần mất nhiều thời gian để thưởng thức nó”. 

Nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Thắng cho biết sân khấu chèo hiện nay cũng chưa đến mức “tắt đèn” đêm diễn. Nhưng biểu diễn chèo cũng chỉ còn lác đác ở vài điểm nhà hát chính thống. Người xem giờ thưa thớt lắm, chủ yếu là diễn cho khách Tây du lịch xem các trích đoạn chèo, chỉ là lướt qua các mảng miếng của nghệ thuật truyền thống đồ sộ này. Khách Tây xem chèo đa phần vì tò mò, chứ đòi hỏi sự thẩm thấu cái độc đáo, tinh túy của chèo thì không thể có. 

“Ngày nay, nhiều lúc tôi chỉ ước mong được nghe lại tiếng khóc sụt sùi hay những ngón tay len lén quệt nước mắt trên má của khán giả khi xem các vở chèo. Cái xúc động thuần hậu, vô tư, trong sáng và  rất người ấy, dường như đã không còn nữa trong một xã hội xô bồ, vội vã hiện nay. Khán giả còn đâu, sự hậu thuẫn của xã hội với một loại hình nghệ thuật dân tộc còn đâu. Đó là nỗi trăn trở không chỉ của những nghệ sĩ chèo mà còn day dứt trong chúng tôi - những người yêu chèo, yêu nghệ thuật cổ truyền dân tộc” - ông Thắng buồn rầu nói.

Lý giải về cơn “bĩ cực” của chèo, ông Thắng cho biết trong khoảng 15 năm trở lại đây, nhiều sân khấu nghệ thuật truyền thống ở Thủ đô đã bị “bức tử”, khi nhà hát kịch biến thành nơi cho thuê tổ chức tiệc cưới. Dân số cơ học tăng nhanh ở đô thị lớn. Vậy là các “thánh đường” của nghệ thuật cổ truyền được cải tạo để có thể kê 100 mâm tiệc, có đường dắt cô dâu chú rể lên sân khấu trao hoa. Và thế là sân khấu nghệ thuật tan tành. 

Chỗ ngồi của nhạc công bị san phẳng, chỗ ngồi khán giả bị dỡ bỏ đi, chỗ diễn của nghệ sĩ trở thành sân khấu chật hẹp đủ cho cô dâu chú rể và nội ngoại hai bên đứng. Sân khấu vẫn “đỏ đèn” 3 ca một ngày nhưng mà là dành cho lễ kết hôn. Bên cạnh đó, chèo ngày nay sống nhờ... ngân sách, tức từ nguồn kinh phí “rót” từ ngành văn hóa nên rất “èo uột”, cảm tính và thiếu bền vững. Khác hẳn với các gánh chèo thuở xưa sống được nhờ có khán giả bỏ tiền mua vé xem. 

Hiện nay, ở các tỉnh như Hải Dương, Thái Bình, Ninh Bình... vẫn duy trì các đoàn chèo, hoạt động một cách cầm chừng, lấy nhiệm vụ phục vụ chính trị là cốt yếu. Tức là các buổi diễn chèo bị đẩy tới hình thức ca múa phục vụ hội nghị, sự kiện... chứ không còn được xem là một hình thái nghệ thuật, được thưởng thức trân trọng như vốn có nữa. 

“Chẳng ai có thể diễn một vở dài với các cung bậc chèo vi diệu, trong một bữa trưa của các vị đại biểu tụ về họp tại tỉnh nhà. Việc này dẫn tới tình trạng các nhà hát chèo mạnh mẽ khi xưa, nay chỉ dựng các miếng - chiêu trò để diễn phục vụ hội nghị và dựng các vở chèo mới để tham gia hội thi nghệ thuật sân khấu chèo toàn quốc. Do đó, yếu tố quan trọng nhất của sân khấu là khán giả đã bị cắt đứt và triệt tiêu” - ông Thắng phân tích.

Ở cách tiếp cận khác, nhà nghiên cứu Đàm Minh cho rằng, chèo nay “thoi thóp” bởi sự quay lưng từ phía người xem. Ông đặt câu hỏi: “Đã bao giờ bạn bỏ tiền ra mua một tấm vé coi vở chèo truyền thống? Người ta khi nói thì ai cũng bảo gìn giữ nghệ thuật của dân tộc là vô cùng cấp thiết. Nhưng không thể giữ chỉ bằng mồm, bằng sự hời hợt mà được. Việc cần kíp là phải bỏ tiền ra mua một tấm vé thưởng ngoạn. Tình yêu và ý thức giữ gìn vốn cổ nghệ thuật truyền thống dân tộc cần phải bắt đầu theo cách đó”.

Tuy nhiên, ông Minh thừa nhận cũng thật khó để yêu cầu mọi người như thế. Bởi vì thưởng thức nghệ thuật dân tộc truyền thống là thứ không thể ép uổng mà được nếu người ta không thực sự yêu thích nó. Phải có một nền tảng văn hóa thế nào đó, thì người ta mới có thể “thẩm" được cái hay, cái đẹp của chèo nói riêng, của nghệ thuật dân gian nói chung, từ đó mới dẫn tới sự yêu thích say mê. 

Và lúc này đây, nghệ thuật chèo vẫn hoạt động ngầm kín với nhau, như một dòng nghệ thuật underground (không chính thống - chưa được công nhận), tức là nó không dừng hẳn mà đang thoi thóp bí ẩn.

Trung Hiếu - Đại Lâm

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.