Danh hiệu văn hóa: Chiếc áo không làm nên thầy tu

Đạt được danh hiệu không phải là điểm kết thúc, là đỉnh cao của các di sản, mà nó còn là điểm bắt đầu cho hành trình “hậu công nhận”.

Các danh hiệu được đặt ra biểu hiện sự công nhận của một nhóm đối tượng, tổ chức nào đó. Tổ chức càng uy tín thì danh hiệu càng có giá trị và độ chính xác của sự công nhận càng cao. Bởi thế, danh hiệu “di sản thế giới” của UNESCO hẳn nhiên là có giá trị cao, thứ nhất là vì uy tín của tổ chức ấy, thứ hai là vì tầm được công nhận là tầm “thế giới” chứ không phải là người trong một nhà tự khen nhau. Nhưng đạt được danh hiệu không phải là điểm kết thúc, là đỉnh cao của các di sản, mà nó còn là điểm bắt đầu cho hành trình “hậu công nhận”.

Nếu như chúng ta chỉ nhìn việc được gắn mác "di sản thế giới" là cái đích hướng đến mà không tính toán, chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển sau đó của di sản thì vô hình trung, chúng ta sẽ mắc vào "cái bẫy" do chính mình tự giăng ra.

Câu chuyện gần đây về loại hình nghệ thuật dân gian hát bài chòi có nên coi là một trong những cơ hội để những ai quan tâm nhìn nhận lại? Trước sự hăm hở của nhiều người, trong đó có các nhà nghiên cứu, người làm trong ngành văn hóa về việc vận động cho nghệ thuật bài chòi trở thành di sản văn hóa phi vật thể thế giới, nếu không tỉnh táo thì "yêu nhau như thế bằng mười hại nhau".

Mặc dù được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình ca ngợi, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu xứng tầm nào về lịch sử ra đời, phát triển của bài chòi? Phần lớn các ý kiến đều dựa vào một nghiên cứu của nhà âm nhạc học người Pháp G.L Bovier.

Trong tập sách "Larousse Musicale", ông Bovier cho rằng bài chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến, tức là sau năm 1470.

Theo một số lưu truyền trong dân gian thì ông tổ của nghệ thuật bài chòi là Đào Duy Từ. Khi mới ra đời, hát bài chòi gắn liền với đặc điểm riêng biệt của người nông dân các tỉnh này.

Họ dựng các chòi trên cánh đồng để canh thú rừng phá hoại hoa màu. Vào những đêm thanh vắng, yên bình, họ nghĩ ra các trò chơi, dùng các điệu hát để giải trí cũng như giao lưu, đối đáp với nhau.

Hát bài chòi ngày càng thu hút sự quan tâm, yêu thích của người dân cũng như tầng lớp trí thức, quan lại. Sau này, hát bài chòi trở nên chuyên nghiệp, hình thành các gánh hát bài chòi đi biểu diễn ở khắp nơi. Hát bài chòi vẫn còn tồn tại ở các tỉnh miền Trung cho đến tận ngày nay.

Có một đặc điểm khá thú vị là tài liệu nghiên cứu về bài chòi được nhiều người viện dẫn nhất là của một nhà nghiên cứu người Pháp.

Hội thảo quốc tế về nghệ thuật bài chòi mới đây được tổ chức tại Bình Định cũng khiến nhiều người hân hoan vì những đánh giá của các học giả nước ngoài về "tầm" của nghệ thuật bài chòi.

Có những nơi biểu diễn bài chòi chủ yếu cho khách du lịch thưởng lãm. Những lời khen ngợi và ghi nhận đó không phải không quan trọng nhưng nếu không bình tĩnh xem xét và cân nhắc thì chúng ta dễ sa vào tâm lý vọng ngoại một cách phù phiếm.

Loại hình dân ca Ví, Giặm vừa được công nhận di sản văn hóa phi vật thể UNESCO.
Loại hình dân ca Ví, Giặm vừa được công nhận di sản văn hóa phi vật thể UNESCO.

Trong một cuộc tọa đàm tại Quảng Nam vào tháng 10/2014, do Viện Âm nhạc Việt Nam phối hợp với Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tồn danh thắng Quảng Nam tổ chức, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan - Tổng đạo diễn xây dựng hồ sơ quốc gia Nghệ thuật bài chòi miền Trung cho rằng, so với các loại hình nghệ thuật di sản văn hóa phi vật thể đã được công nhận như đờn ca tài tử, dân ca quan họ, ca trù thì bài chòi có quá ít tài liệu nghiên cứu.

Phần lớn các bài viết về bài chòi trên các phương tiện truyền thông đại chúng đều chưa có sự điền dã, nghiên cứu một cách khoa học nên "cái gốc" để được UNESCO công nhận hát bài chòi là di sản phi vật thể hiện vẫn còn chung chiêng.

Đến không gian văn hóa cụ thể đã từng tồn tại nghệ thuật bài chòi hiện nay cũng chưa được xác định một cách chắc chắn bằng các nghiên cứu, điều tra khoa học trên thực tế.

Vừa trở thành di sản phi vật thể cấp quốc gia vào tháng 8/2014, ngay sau đó, bài chòi đã được đưa vào danh sách đệ trình UNESCO công nhận di sản  phi vật thể của nhân loại. Chậm nhất là ngày 31/3/2015, hồ sơ của nghệ thuật bài chòi phải được gửi tới UNESCO.

Khoảng thời gian quá ngắn, việc có chuẩn bị đủ các điều kiện về hồ sơ hay không là của những người phụ trách công việc này, nhưng sự cấp tập đó phần nào thể hiện tâm lý hào hứng, có phần hơi sốt ruột với danh hiệu.

Theo những gì được phản ánh trên các phương tiện truyền thông, có cảm giác đang có một cuộc chạy đua danh hiệu của UNESCO giữa các địa phương(?).

Có báo địa phương nhận xét Nam Trung Bộ vẫn đang là vùng "trắng" danh hiệu Di sản phi vật thể Thế giới khi đặt cạnh đồng bằng Bắc Bộ (hát xoan, quan họ, ca trù), Bắc Trung Bộ (nhã nhạc Huế), Tây Nguyên (không gian văn hóa cồng chiêng) hay Nam Bộ (đờn ca tài tử).

Hát xoan Phú Thọ.
Hát xoan Phú Thọ.

Việc được công nhận có một di sản phi vật thể giống như để các địa phương "bằng bạn bằng bè" để không nơi nào thấy mình thua kém vì thiếu danh hiệu.

Hiểu theo một cách nào đó, danh hiệu là một cái áo khoác ngoài. Có một cái áo đẹp để thu hút sự chú ý của người khác đôi khi là điều rất cần thiết.

Việc được công nhận là di sản phi  vật thể của nhân loại để nghệ thuật bài chòi được quảng bá rộng rãi, được đông đảo công chúng quan tâm rõ ràng là có tác dụng tốt với loại hình nghệ thuật này cũng như cho cả không gian văn hóa nói chung. Song, chiếc áo không làm nên thầy tu.

Cố công lấy được danh hiệu mà không tính đến khả năng phục hồi, nuôi dưỡng được bộ môn nghệ thuật ấy cho xứng tầm thì  chính chúng ta sẽ tự làm khó mình.

Trên thực tế, nghệ nhân của các bộ môn nghệ thuật đã được công nhận là di sản chưa nhận được nhiều sự hỗ trợ để có thể sống được với  nghề, chuyên tâm với việc gìn giữ và phát triển.

Các nghệ nhân ngày một già đi mà lớp trẻ kế cận chưa có nhiều người thực sự đam mê, tâm huyết với nghệ thuật truyền thống là một nguy cơ lụn bại.

Sự tồn tại của các bộ môn nghệ thuật được công nhận là di sản phi vật thể hiện nay vẫn mang nặng tính trình diễn tại các kỳ liên hoan.

Trong khi, cái nôi của sự ra đời, nơi nuôi dưỡng các di sản ấy là đời sống quần chúng nhân dân. Phải tạo được đất sống cho di sản ngay trong lòng cuộc sống hằng ngày của người dân thì sức sống ấy mới lâu bền và di sản thực sự có ý nghĩa.

Nghệ thuật bài chòi hiện mới được phục dựng tại Quảng Nam, Bình Định và Phú Yên, ở Đà Nẵng, Khánh Hòa cũng có xuất hiện các nhóm bài chòi mang tính tự phát. Trên báo chí đã xuất hiện những kêu ca của các câu lạc bộ bài chòi vì chưa được quan tâm đầu tư nhiều.

Để một loại hình nghệ thuật không còn phổ biến rộng rãi trở lại với đời sống bằng sức sống nội lực tự thân là một việc vô cùng gian nan, cần một quá trình được xây dựng lớp lang, bài bản và tiến hành từ từ  từng bước một.

Cần phải xây dựng kế hoạch cho quá trình này từ trước khi di sản được công nhận, chứ không phải sau khi được công nhận rồi mà chúng ta vẫn loay hoay với việc bảo tồn và phát triển giống như trường hợp của các di sản đã được công nhận trước đây.

Thích các danh hiệu, sự ghi nhận là đặc điểm tâm lý phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay. Không phải ngẫu nhiên mà ngành giáo dục phải phát động phong trào chống bệnh thành tích, bỏ cả chấm điểm, thi cử ở cấp tiểu học nhằm xóa bỏ dần dần sự sính danh hiệu, trong nhiều trường hợp là chạy đua theo các cái danh hão bằng mọi giá.

Tâm lý thích danh hiệu, tìm cách đạt được danh hiệu dù nội lực còn nhiều thiếu hụt là biểu hiện của sự thiếu tự tin vào sức mạnh tự thân.

Một người thực sự tự tin vào giá trị của bản thân thì chỉ cần sự ghi nhận của những người xung quanh, không nhất thiết phải khoác lên mình một danh hiệu có tên gọi kêu như mõ nào đó.

Nếu tự bản thân đã hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết, phù hợp với danh hiệu thì việc đón nhận danh hiệu là một hành động cộng thêm xứng đáng. Nhưng tìm cách chạy đua để có bằng được danh hiệu sẽ chỉ tốn kém thời gian, tiền của và công sức.

Nghệ thuật bài chòi cũng như các loại hình nghệ thuật dân gian khác, là sản phẩm của quần chúng nhân dân, trước tiên là để phục vụ nhu cầu giải trí, thưởng thức nghệ thuật của nhân dân. Không cần tới bất cứ sự công nhận nào của bên ngoài thì người dân cũng vẫn sẽ yêu quý và thưởng thức sản phẩm nghệ thuật truyền thống nếu nó thực sự gần gũi và thu hút họ.

Còn ngược lại, nếu được bên ngoài công nhận mà người dân không được, không muốn thưởng thức, tham gia vào các loại hình nghệ thuật đó thì chúng ta mới chỉ giữ được cái vỏ hào nhoáng bên ngoài, tôn tạo nó bằng danh hiệu trong khi bên trong có những phần trống rỗng.

Nếu không tỉnh táo và có một kế hoạch dài hơi, thiết thực cho việc phát huy giá trị của nghệ thuật từ gốc rễ thì chúng ta sẽ dễ bị lâm  vào tình thế này.

Quảng bả văn hóa Việt Nam ra bên ngoài là một nhiệm vụ. Chuyện không cần phải bàn cãi. Nhưng quảng bá thế nào để vừa hiệu quả, vừa thực chất và có tính chiều sâu lại là bài toán không dễ dàng mà những người làm văn hóa hiện nay cần phải tìm cho được lời giải.

Việt Hòa

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.