Cựu đại sứ Lê Văn Bàng: Người mang thông điệp hòa bình

Ông là đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Hoa Kỳ, một trong những người khai mở cho mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ những tháng ngày khó khăn nhất.

Ông ngồi thư thả uống trà ngoài vườn. Phía hiên nhà, những giò hoa phong lan đang nở trong thời tiết khắc nghiệt của mùa hè. Một không gian thư thái, an nhàn của tuổi già. Thế nhưng, trên bàn làm việc của ông vẫn là những cuốn sách, những bài báo về các vấn đề ngoại giao trong và ngoài nước. Nghỉ hưu từ năm 2010, vợ chồng ông chuyển về Sơn Tây sống, một ngôi nhà bình yên, có chim, có hoa, có ao cá, có tất cả những thú vui dân dã của một người ra đi từ quê.

Tuổi 60, ông Bàng tự học đánh máy, tự học lái xe để có thể chủ động công việc và dịch chuyển của mình. Ông nói với tôi rằng, tư tưởng ngoại giao của ông không có gì quá cao siêu, nó đi từ những điều bình dị, từ đời sống của người nghèo khổ, từ những vất vả nhọc nhằn của người nông dân thế hệ ông. Ở ông có sự chân tình, cởi mở, gần gụi của một chính khách khi đã rời bỏ mọi danh vọng và quyền lực. Mà hình như với ông, cái chất mộc mạc, giản dị đó chưa bao giờ rời xa. Hay vì ông là một nhà ngoại giao?

Tôi hỏi, vì sao ông lựa chọn về một nơi xa trung tâm thành phố như thế này để sống, khi con cái và mọi hoạt động vẫn ở trong nội thành. Ông cười, ông thích cảm giác thư thái khi mỗi sớm mai thức dậy, được hít thở không khí trong lành từ đất mẹ. Ông thích sự tĩnh lặng để chiêm nghiệm những vấn đề của thời cuộc. Dù xa trung tâm, nhưng mọi hoạt động ngoại giao trong và ngoài nước ông đều quan tâm, cập nhật, thậm chí lúc nào cũng sẵn sàng vào cuộc làm việc nếu được tham vấn. Ông chưa bao giờ ở ẩn.

Trong những ngày này, khi chuyến đi lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm  Mỹ, đánh dấu 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, cái tên Lê Văn Bàng càng được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước. Bởi ông chính là vị đại sứ đầu tiên góp phần đặt nền tảng cho mối quan hệ Việt - Mỹ. Có thể nói, ông hiểu nước Mỹ, hiểu người Mỹ, thông thuộc văn hóa của họ. Đó cũng chính là cầu nối giúp ông hoàn thành tốt sứ mệnh của mình trong thời điểm cam go của lịch sử.

Nhưng có một điều tôi cảm nhận được ở ông, dù sau này thành danh, đi khắp nơi trên thế giới, làm đại sứ của hòa bình, thì ông vẫn không bao giờ quên những ngày gian khổ của mình ở quê nhà. Ông gọi tư tưởng ngoại giao của ông là “ngoại giao chân đất”. Bởi ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Ninh Bình. Từ nhỏ, nhà nghèo, có những giai đoạn ông phải bỏ học ra bờ sông ngồi câu cá kiếm sống. Nhưng cuối cùng, ông vẫn học xong lớp 10. Lê Văn Bàng gia nhập vào đoàn thanh niên xung phong, đi vào Quảng Trị khói lửa  năm 1967. Nhưng chỉ một năm, ông có giấy gọi trở ra đi học. Ước mơ của cậu bé Bàng ngày đó là trở thành một kỹ sư xây dựng. Nhưng ông được cử sang Cu Ba học tiếng Anh.

Về nước, ông vào công tác ở Bộ Ngoại giao - bởi vì ông là người thông thuộc tiếng Anh. Từ bỏ giấc mơ kỹ sư, Lê Văn Bàng đi theo nghề ngoại giao. Vốn kiến văn và nghiệp vụ, ông đều tự học, tự đào tạo cho chính mình. Và may mắn, ông được làm việc cạnh những nhà ngoại giao lớn như Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.

Có thể nói, trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ trong gần 4 thập kỷ qua, Lê Văn Bàng là người chứng kiến và tham gia các mức độ khác nhau nhưng gần như từ đầu tới cuối. Ông từ một chuyên viên theo dõi tình hình thực hiện Hiệp định Paris, theo dõi báo chí và dư luận Mỹ để báo cáo Bộ Ngoại giao và Bộ Chính trị đến vị trí phụ trách Vụ Âu Mỹ. Từ một cán bộ chạy ra sân bay tiếp đón khách, rồi trưởng phòng liên lạc, thành đại diện lâm thời và đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Mỹ và sau này là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Đó là một hành trình của sự nỗ lực không ngừng của ông trong giai đoạn khó khăn của đất nước.

Thời gian đã trôi qua, những còn, những mất. Nhưng trong ký ức của nhà ngoại giao ấy vẫn không bao giờ quên những câu chuyện của quá khứ. Đối với ông, quá khứ như một gia tài để giúp một con người sống và trưởng thành. Và với một dân tộc, quá khứ cũng là bệ đỡ cho dân tộc đó đi xa trên trường quốc tế.

Năm 1995, khi Chủ tịch nước Lê Đức Anh sang dự họp tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, trong một buổi gặp gỡ bên lề, Chủ tịch nước có nói rằng nếu người Mỹ không vượt qua được quá khứ của mình thì không phải là một nước lớn. Đó là thông điệp Chủ tịch nước muốn gửi tới Mỹ: “Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Tuy nhiên, hành trình đó không hề đơn giản.

Ông Lê Văn Bàng nói: “Cái khó cho việc bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ là làm thế nào để hai kẻ thù này bắt tay với nhau mà gác lại quá khứ, đè nén quá khứ xuống để đẩy vấn đề chiến lược lên. Những người như ông Đỗ Mười, ông Lê Đức Anh nhìn xa trông rộng, thấy được các vấn đề chiến lược. Còn những cựu binh mất tay, mất chân, mất nhà, mất cửa, mất con thì không nhìn đến chuyện đấy. Họ chỉ nghĩ đến sự mất mát của họ. Ngay cả chính tôi, một người đã từng đi qua cuộc chiến, cũng không dễ dàng xóa bỏ những rào cản đó”.

Phải mất 20 năm, để bắt đầu cho một mối quan hệ. Dù lúc đó,  không khí chống Việt Nam rất căng thẳng. Ông kể: “Tôi nhớ việc tìm kiếm người mất tích mà phải đưa lên báo, phải nhờ bác Đỗ Mười, Lê Đức Anh để chứng minh với Hoa Kì là chúng tôi không giữ gì cả. Vượt qua hội chứng chiến tranh là cực kì khó khăn, ngoài cựu chiến binh, ngoài quan chức chính trị còn có cộng đồng người Việt sang bên đấy. Để hóa giải điều này chúng ta đã mất 20 năm. Đó là hội chứng chiến tranh”.

Đại sứ Lê Văn Bàng (giữa) gặp Tổng thống Mỹ Bill Clinton năm 1997 về việc mở cơ quan ngoại giao.
Đại sứ Lê Văn Bàng (giữa) gặp Tổng thống Mỹ Bill Clinton năm 1997 về việc mở cơ quan ngoại giao.

Theo cựu đại sứ Lê Văn Bàng, Hội chứng chiến tranh là vấn đề sâu xa do lịch sử để lại. Nhiều người từ miền Bắc vào Nam năm 1954; nhiều người từ miền Nam Việt Nam sang Mỹ sau năm 1975 mang theo cái hận mất đất, mất họ hàng... Hóa giải hội chứng chiến tranh là một vấn đề nan giải và mất thời gian vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức của con người trong mấy chục năm qua, đặc biệt là trong lòng các cựu chiến binh, gia đình liệt sĩ, thương binh của hai nước. “Đó là vấn đề của giai cấp, của dân tộc. Chúng ta đã nỗ lực kéo họ lên, đặt họ ngang hàng với mình, xóa bỏ mọi hố sâu ngăn cách về giai cấp, chính trị, xã hội. Đánh thức trong họ tình cảm gắn bó với quê hương, tạo điều kiện cho họ về thăm quê…”.

Ông, với vai trò là đại sứ đã đi tới hơn 40 bang nước Mỹ, mang theo thông điệp về hòa bình mà đất nước Việt Nam nhỏ bé mong muốn: “Chúng tôi không muốn chiến tranh, chúng tôi yêu chuộng hòa bình”. Có những bang như California hay New York, ông tới hàng chục lần với nỗ lực giúp hàn gắn vết thương chiến tranh, để kết nối người Việt, hướng họ về đất nước. Có lần ông đi với 9 đại sứ của các nước, đến lượt ông đăng đàn thì hàng loạt gạch đá, tờ rơi về Việt Nam bị xé vụn và ném lên.

Cũng trong 9 năm ở Mỹ, ông đã chứng kiến rất nhiều cuộc biểu tình của người Việt tại Mỹ. Tháng 8/1995, ông đã đến quận Cam, tiểu bang California, nói chuyện công khai về quan hệ Việt - Mỹ cho người Mỹ nghe. “Nhiều người bạn tại quận Cam khuyên tôi không nên đi để đảm bảo an toàn, chuyến đi đó rất khó khăn, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng, đã có nhiều Việt Kiều bị bắn chết. Nhưng tôi vẫn quyết đi. Và thực tế là, trong buổi nói chuyện đó tôi luôn bị quấy rối khiến cảnh sát phải can thiệp”. 

Ông kể cho tôi nghe về một ngày lịch sử, đó là khi lá cờ Việt Nam bay trên nóc tòa nhà đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ. Đó là ngày 5/8/1995. “Lúc đấy chúng tôi rất tự hào. Nhưng ngay cả giây phút đó, chúng tôi cũng phải đối diện với những nguy cơ. Tôi nhận được tin là bọn phản động sẽ đến vào lúc mình hát Quốc ca, chúng sẽ kéo 500-1.000 người, ném đá, ném đất vào sứ quán. Tôi họp mọi người, phải làm thế nào, chúng ta vẫn kéo cờ, hát Quốc ca mà không bị phá. Cuối cùng thì chúng tôi đã làm trước buổi tiệc mà không công bố, bắt đầu từ 8 giờ, chứ không phải 9 giờ như thông báo. Sáng hôm sau 7 giờ, chúng tôi thông báo với khách mời là buổi lễ sẽ diễn ra trước nửa tiếng, bọn chống đối không kịp trở tay. Đó là câu chuyện tôi nhớ mãi”.

20 năm đi qua, mối quan hệ Việt - Mỹ đã đẩy lên một tầm cao mới, trong đó có vai trò quan trọng của những người khai mở như ông Bàng. Ông tin vào thế hệ trẻ, họ sẽ là những “đại sứ” bắc nhịp cầu đưa Việt Nam ra thế giới, tiếp nối tinh thần vì độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, để tất cả những người dân Việt ở khắp nơi trên thế giới đều chung tay hướng về đất nước.

Việt Hà Nguyễn

Các tin khác

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Nhiều năm sau khi không còn xuất hiện đều đặn trên sóng truyền hình, Đại tá Nguyễn Thị Mai Thao - Phó giám đốc Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) vẫn gặp những người nhận ra mình chỉ bằng giọng nói.

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.