Con đường tìm vaccine trị COVID-19: Trở ngại thiếu tiền

Bạn có thể nghĩ rằng tiền sẽ không phải là một vấn đề trong việc cố gắng giải quyết vấn đề lớn nhất mà thế giới hiện phải đối mặt: Đại dịch COVID-19. Bạn đã sai. Bởi các công ty dược phẩm lớn có tiền nhưng thiếu động lực trong công cuộc tìm kiếm thuốc đặc trị virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2), còn các cơ quan công quyền thì có động lực song lại thiếu tiền mặt.

Nhiệm vụ đi cùng các rào cản

Đại dịch COVID-19 vẫn hàng ngày khiến hàng nghìn các nhà khoa học tại viện nghiên cứu ở các trường đại học, các công ty dược phẩm trên khắp thế giới phải hao tổn tâm lực để cố gắng tìm ra một loại vaccine đặc trị virus SARS-CoV-2 gây ra căn bệnh này.

Nhưng sự bùng phát khủng khiếp của COVID-19 đã khiến việc tìm ra vaccine càng trở nên thúc bách và khoảng thời gian nghiên cứu được rút càng ngắn càng tốt.

Thậm chí, các nhà khoa học chỉ mất 2 tháng rưỡi để thực hiện thử nghiệm lâm sàng đầu tiên trên người, theo Tiến sĩ Jerome Kim - Tổng Giám đốc Viện Vaccine Quốc tế (IVI), một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở ở Hàn Quốc được thành lập như một sáng kiến của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc.

Tiến sĩ Jerome Kim - Tổng Giám đốc Viện Vaccine Quốc tế (IVI). Ảnh: Handout
Tiến sĩ Jerome Kim - Tổng Giám đốc Viện Vaccine Quốc tế (IVI). Ảnh: Handout

Thông thường, có 3 giai đoạn thử nghiệm liên tiếp. Giai đoạn I là tiến hành thử nghiệm trên khoảng dưới 50 người để có cái nhìn đầu tiên về sự an toàn và các phản ứng phụ của vaccine có hay không.

Giai đoạn II mở rộng hơn nhằm mục đích đánh giá tính an toàn và tính sinh miễn dịch của vaccine, đồng thời lựa chọn liều, lịch dùng thích hợp.

Giai đoạn III tiến hành có thể trên hàng chục nghìn người tình nguyện, có đối chứng, tại nhiều địa điểm, sử dụng phác đồ tiêm chủng được lựa chọn từ giai đoạn II, nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của vaccine. Kết quả thử nghiệm các giai đoạn trước phải đảm bảo tính an toàn trong giới hạn cho phép mới được tiến hành sang giai đoạn tiếp theo.

Hiện nay, vì tính cấp bách nên giai đoạn I và II được tiến hành song song. Nếu một loại vaccine ứng cử viên tạo ra phản ứng miễn dịch rất mạnh, có khả năng hiệu quả, thì giai đoạn III có thể được bắt đầu trước khi giai đoạn II hoàn tất.

Trong nhiều tháng trời, giáo sư về vaccine học Sarah Gilbert (Đại học Oxford, Anh) đã chạy đua với thời gian. Bà làm việc 7 ngày trong một tuần để phát triển một loại vaccine cho chủng virus Corona mới (hay SARS-CoV-2) gây ra căn bệnh COVID-19 có khả năng làm người mắc tử vong.

Gilbert và các đồng nghiệp tại Đại học Oxford đã phải đối mặt với vô số thách thức kỹ thuật và các biến chứng tiềm ẩn trong nỗ lực đánh bại con virus đã cướp đi hơn 100.000 mạng sống trên khắp thế giới và làm tê liệt nền kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, một trở ngại trần trụi hơn nhiều đã làm lu mờ đi các nỗ lực: Đó là tiền.

Một kỹ thuật viên dược phẩm chuẩn bị cho một loại vaccine điều trị COVID-19 để mang ra thử nghiệm tại thành phố Kansas, Mỹ. Ảnh: Trung tâm nghiên cứu dược phẩm/AP.
Một kỹ thuật viên dược phẩm chuẩn bị cho một loại vaccine điều trị COVID-19 để mang ra thử nghiệm tại thành phố Kansas, Mỹ. Ảnh: Trung tâm nghiên cứu dược phẩm/AP.

Giáo sư Gilbert ước tính, nhóm nghiên cứu của bà cần tới 100 triệu bảng Anh (123 triệu USD) vào tháng 6 tới để thành công trong mục tiêu phát triển một loại vaccine sẽ chứng minh được hiệu quả (bà "tự tin đến 80%) và hợp tác với một nhà sản xuất dược phẩm để sản xuất trên quy mô lớn vào mùa thu này.

Thời hạn này ngắn hơn một năm so với quy định của các công ty dược phẩm lớn như GlaxoSmithKline.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trên 60 nhóm riêng biệt ở khoảng hơn 10 quốc gia đang tham gia vào cuộc đua nước rút tìm kiếm vaccine này, bao gồm các công ty dược phẩm lớn, công ty công nghệ sinh học khởi nghiệp, các viện nghiên cứu và trường đại học lớn do chính phủ điều hành từ Đại học Queensland (Australia) đến Công ty Johnson & Johnson (Mỹ) hay Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Trung Quốc.

Gilbert cho rằng, bà tin nhóm của mình đạt được nhiều tiến bộ nhất cho đến nay và khả năng là nhóm đầu tiên đạt được mốc quan trọng là chứng minh được hiệu quả của vaccine. Mặc dù vậy, bà chỉ "lạc quan, nhưng không tin số tiền mà nhóm của bà cần sẽ có kịp thời, hay thậm chí là có đủ".

"Tôi không nghĩ rằng những người có tiền thực sự đạt được đồng thuận hoàn toàn với những gì mà các nhà phát triển vaccine cần" - Giáo sư Gilbert nói.

Sarah Gilbert bắt đầu quá trình nghiên cứu vaccine đặc trị SARS-CoV-2 với số tiền khoảng 500.000 bảng Anh (gần 623.000 USD). Đó là số tiền do quỹ của Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Vật lý và Kỹ thuật của Chính phủ Anh tài trợ mà ban đầu định tài trợ cho việc điều chế vaccine khác.

Trong những tuần gần đây, Giáo sư Gilbert - người từng nghiên cứu vaccine điều trị Mers-CoV (virus Corona gây bệnh viêm phổi Trung Đông-PV), virus Nipah và sốt Lassa - đã dành nhiều thời gian để viết đơn xin tài trợ, tìm kiếm đối tác tài trợ mới cũng như tìm kiếm sự chấp thuận để được tái cấp vốn nghiên cứu.

Các rào cản tài chính và sự quan liêu mà nhóm nghiên cứu của Đại học Oxford gặp phải cho thấy sự không phù hợp giữa những nguồn lực với các động lực trong nhiệt tâm phát triển vaccine có thể làm phức tạp nỗ lực của toàn cầu để giải quyết cuộc khủng hoảng đang lan rộng.

Nói một cách đơn giản, các công ty dược phẩm sở hữu những phương tiện để tài trợ cho việc điều chế các loại vaccine đắt tiền mới thường thiếu động lực khi mà họ nhìn thấy lợi nhuận lớn hơn từ những phương pháp điều trị các căn bệnh mãn tính như tiểu đường và cholesterol cao.

Nhà sáng lập Microsoft - tỉ phú, nhà từ thiện Bill Gates đã công bố kế hoạch tài trợ cho việc xây dựng các nhà máy sản xuất đối với 7 loại vaccine có tiềm năng điều trị được căn bệnh COVID-19. Ảnh: AFP.
Nhà sáng lập Microsoft - tỉ phú, nhà từ thiện Bill Gates đã công bố kế hoạch tài trợ cho việc xây dựng các nhà máy sản xuất đối với 7 loại vaccine có tiềm năng điều trị được căn bệnh COVID-19. Ảnh: AFP.

Mặt khác, các trường đại học, các viện nghiên cứu có được nguồn tài trợ công nên các công ty khởi nghiệp về công nghệ sinh học có thiên hướng và khả năng lấp vào khoảng trống thiếu thốn phương tiện đó.

Quy mô rộng lớn mà cuộc khủng hoảng do COVID-19 tạo ra đã thúc đẩy các công ty lớn tham gia nhưng lại muộn màng và chỉ khi có sự hậu thuẫn mạnh của nhà nước. Các đại gia dược phẩm như Công ty Johnson & Johnson và Công ty đa quốc gia Sanofi của Pháp đều dựa trên tài trợ của Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Y sinh Tiên tiến (BARDA) - một cơ quan thẩm quyền thuộc Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ (HHS), để làm nền tảng và hợp tác trong việc điều chế vaccine.

Chi phí quá nhiều, rủi ro quá lớn

Việc phát triển vaccine là vô cùng tốn kém từ cả góc độ kinh doanh cũng như rủi ro trong công việc nghiên cứu. Khi một loại vaccine tiềm năng được tạo ra trong phòng thí nghiệm, nó phải trải qua 3 giai đoạn thử nghiệm lâm sàng liên quan đến người như trên.

Các công ty dược phẩm đa quốc gia như Pfizer, GSK, Johnson & Johnson tuyên bố chi từ 1 đến 2 tỉ USD để đưa vaccine từ phòng thí nghiệm ra thực tế. Quá trình này thường mất từ 5-10 năm và đôi khi lâu hơn. Do đó, với tỉ lệ thất bại lên đến trên 90%, trong đó nhấn mạnh thách thức trong việc phát triển vaccine ra sao, nên đã làm nản lòng ngay cả các ông lớn dược phẩm.

Một nhà khoa học đang nghiên cứu phát triển một loại vaccine điều trị virus SARS-CoV-2. Ảnh: AFP.
Một nhà khoa học đang nghiên cứu phát triển một loại vaccine điều trị virus SARS-CoV-2. Ảnh: AFP.

Michael Kinch - Giám đốc Trung tâm Đổi mới Nghiên cứu về Công nghệ sinh học và Khám phá Dược phẩm tại Đại học Washington ở St Louis (Mỹ) - nói rằng, các công ty dược phẩm lớn thường coi việc phát triển vaccine là rủi ro cao nhưng lợi nhuận lại thấp.

Để tránh tốn chi phí trong nghiên cứu của mình, các công ty dược phẩm lớn đã cắt giảm ngân sách nghiên cứu và phát triển trong những năm gần đây để tập trung vốn vào các công đoạn cuối của quá trình điều chế thuốc và sản xuất các thuốc điều trị mà bên ngoài đã điều chế ra - mà thường được các tổ chức công tài trợ như các viện nghiên cứu, chính phủ.

Ví như, tất cả 210 loại thuốc mới được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ phê duyệt từ năm 2010 đến năm 2016 đã được phát triển dưới sự tài trợ của Viện Sức khỏe Quốc gia - nơi giải ngân khoảng 80% trong khoản tiền 40 tỉ USD mà Mỹ chi vào nghiên cứu y học cho hơn 2.500 trường đại học và các viện nghiên cứu trên toàn thế giới.

"Các công ty dược phẩm lớn nói chung không còn các bộ phận nghiên cứu nữa khi thấy chi phí nghiên cứu thường đắt gấp ba so với thuốc do các học viện phát triển. Ngành công nghiệp này chỉ tham gia sản xuất và tiếp thị một sản phẩm có khả năng thành công" - Ian Frazer, giáo sư tại Đại học Queensland (Australia), người đồng phát minh ra vaccine papillomavirus (virus gây u nhú ở người-PV, cho hay.

Pfizer là một đối tác với Công ty BioNTech của Đức trong phát triển vaccine chống lại virus SARS-CoV-2. Ảnh: AFP.
Pfizer là một đối tác với Công ty BioNTech của Đức trong phát triển vaccine chống lại virus SARS-CoV-2. Ảnh: AFP.

Giáo sư Frazer nói rằng, việc không giải quyết được những thiếu hụt trong tài trợ nghiên cứu học thuật sẽ khiến các quốc gia không chuẩn bị trước với các mối đe dọa về sức khỏe cộng đồng trong tương lai.

Một số học giả thì cũng nhìn thấy những cạm bẫy trong việc cộng tác với những đối tác lớn trong ngành công nghiệp này. "Đây không phải là một sự hợp tác đích thực ngay từ đầu, với việc chia sẻ ý tưởng và hợp tác bình đẳng" - Keymanthri Moodley, Giám đốc Trung tâm Đạo đức Y khoa tại Đại học Stellenbosch (Nam Phi), nói.

Đòi hỏi kỹ thuật trong sản xuất vaccine ở quy mô lớn đồng nghĩa với việc các viện nghiên cứu cũng như các công ty khởi nghiệp nhỏ hơn cuối cùng sẽ cần phải hợp tác với những công ty lớn hơn nếu họ chưa đưa được sáng chế của mình ra khỏi phòng nghiên cứu.

Các công ty dược phẩm lớn đã để mắt hợp tác với các công ty công nghệ sinh học khởi nghiệp - thường được coi là sáng tạo, nhanh nhẹn hơn so với các đối tác dược phẩm lớn của họ, chẳng hạn như trường hợp đối tác của Pfizer đã hợp tác phát triển vaccine với Công ty BioNTech của Đức.

Gia Minh (Còn tiếp)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.