CIA tài trợ chương trình tẩy não ở Canada

Dựa theo lời kể của thân nhân các nạn nhân cũng như hồ sơ lưu trữ tại một bệnh viện tâm thần Montreal, Canada, báo chí đã tìm ra cái gọi là “chương trình tẩy não” đã tiến hành trong hàng chục năm, được tài trợ bởi chính phủ Canada và CIA.

Từ câu chuyện của nữ họa sĩ Canada…

Sarah Anne Johnson, một nữ họa sĩ 41 tuổi ở Canada, kể với tờ báo The Guardian rằng bà thường cảm thấy có một màn sương khói mờ ám xung quanh câu chuyện điều trị bệnh của bà ngoại mình, bà Velma Orlikow, cách đây khoảng 60 năm.

Johnson kể, vào năm 1956, bà Orlikow tự mình đến Viện điều trị bệnh tâm thần Allan, một bệnh viện uy tín bậc nhất ở Montreal, Canada, để điều trị chứng bệnh trầm cảm hậu sản. Bà đã liên tục ra vào bệnh viện nhiều lần để tiếp nhận điều trị. Điều lạ là phác đồ điều trị lại kéo dài khá lâu, đến những 3 năm.

Đồng thời, kết quả điều trị cũng khác thường, thay vì có thể làm cho bệnh tình thuyên giảm, ngược lại còn làm cho tình trạng bệnh của bà Orlikow ngày càng nặng thêm. Qua quá trình điều trị, tính cách của bà Orlikow dần dần thay đổi, bà ngày càng có những biểu hiện tâm thần kỳ lạ khiến cho gia đình hết sức lo lắng.

Nạn nhân Velma Orlikow.
Nạn nhân Velma Orlikow.

Sự băn khoăn, lo lắng của gia đình bà Orlikow kéo dài hơn 20 năm sau mới được giải thích. Năm 1977, chương trình tẩy não tại Canada được báo chí phanh phui. Thì ra, việc điều trị bệnh cho bà Orlikow tại Viện Allan thực chất là một cuộc thí nghiệm bí mật do Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) tài trợ, và bà Orlikow cũng không phải là người duy nhất bị sử dụng làm vật thí nghiệm.

 Bà ngoại Orlikow mất khi Johnson 13 tuổi, chưa hiểu rõ lắm về những vấn đề lớn lao, hoàn toàn không có ý tưởng gì về những thí nghiệm mang tính khoa học phục vụ cho ý đồ quân sự. Nhiều năm sau, khi đã trưởng thành và hiểu chuyện, Johnson bắt đầu tìm kiếm sách báo cũ đọc lại để tìm hiểu về những gì đã xảy ra với bà ngoại mình năm xưa và đã phát hiện ra sự thật khủng khiếp.

Johnson từng bước khám phá ra rằng có đến hàng trăm người đến điều trị tại Viện Allan và cũng bị sử dụng làm vật thí nghiệm như bà ngoại mình. Và chương trình thí nghiệm đó là một trong hàng trăm dự án thí nghiệm tẩy não trong một dự án chung do CIA tài trợ và được thực hiện khắp khu vực Bắc Mỹ, có tên gọi là MK-ULTRA.

Theo các tài liệu lưu trữ, dự án MK-ULTRA được thai nghén từ sau cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1953. Khi đó, chính quyền Mỹ rất ngạc nhiên thấy rằng trong số lính Mỹ tham chiến tại bán đảo Triều Tiên và bị bắt làm tù binh khi trở về sau chiến tranh, một số người có những biểu hiện khác lạ, hoàn toàn thay đổi tư tưởng, quay sang ủng hộ chủ nghĩa cộng sản, ủng hộ Triều Tiên và chỉ trích, phê phán chính phủ Mỹ một cách gay gắt. Washington nghi ngờ rằng trong quá trình bị giam giữ, những người lính này có thể đã trải qua một cuộc thí nghiệm tẩy não và “bơm” vào những tư duy, ký ức và quan điểm mới.

Thế là Washington gấp rút triển khai chương trình nghiên cứu để tìm hiểu việc đó đã diễn ra như thế nào, liệu có thể thực hiện việc tẩy não làm thay đổi tính cách, tư duy một con người được hay không. Chương trình MK-ULTRA được Giám đốc CIA khi đó là Allen Welsh Dulles ký lệnh triển khai vào ngày 13-4-1953. Do thí nghiệm được thực hiện trên con người đang sống nên dự án đụng chạm nhiều khía cạnh xã hội rất phức tạp, đặc biệt là vấn đề đạo đức và nhân quyền.

Chính vì vậy, dự án được tiến hành trong vòng bí mật tuyệt đối. Ở Mỹ có đến 162 dự án con được CIA tài trợ trực tiếp và tiến hành tại các trường đại học, viện nghiên cứu. MK-ULTRA tại Mỹ đã bị báo chí phanh phui vào năm 1975, nhiều năm sau khi dự án chấm dứt vì kết quả thu được không như mong muốn.

CIA bắt đầu đưa dự án MK-ULTRA đến Canada 3 năm sau khi dự án được triển khai ở Mỹ nhằm mở rộng phạm vi nghiên cứu ra nước ngoài. Một sự trùng hợp là tại Viện Allan ở Montreal, một bác sĩ gốc Scotland tên là Donald Ewen Cameron cũng đang nghiên cứu để tìm hiểu xem liệu các bác sĩ có thể tẩy xóa trí óc của một con người và “bơm” vào những kiểu hành vi mới. Cameron vốn là một bác sĩ tâm thần nổi tiếng thế giới, là một trong những nhà đồng sáng lập Hiệp hội Tâm thần thế giới (WPA), và là giám đốc đầu tiên của Viện Allan.

Bác sĩ Donald Ewen Cameron.
Bác sĩ Donald Ewen Cameron.

Nhờ có sẵn dự án nghiên cứu của bác sĩ Cameron, dự án MK-ULTRA tại Canada đã được thúc đẩy một cách hoàn hảo. Hàng trăm nạn nhân người Canada đã vô tình trở thành vật thí nghiệm và đã cho kết quả rõ rệt. “Thật không thể tin được” – Johnson thốt lên khi kể lại những gì bác sĩ Cameron tiến hành trên các bệnh nhân của ông.

Theo các tài liệu lưu trữ, chương trình thí nghiệm tẩy não do CIA tài trợ ở Canada kéo dài trong 10 năm, từ năm 1955 đến năm 1965. Trong giai đoạn này, mỗi năm bác sĩ Cameron nhận tài trợ từ nguồn chính phủ Canada số tiền hơn 500.000 USD, tương đương 4 triệu USD ngày nay. Khi đưa dự án MK-ULTRA đến Canada, CIA cũng tài trợ cho ông ta số tiền tương tự. Việc tài trợ của CIA được thực hiện thông qua tổ chức bình phong là Hội Khảo sát sinh thái người (SIHE).

Theo các tài liệu lưu trữ, bước đầu tiên trong quá trình điều trị của bác sĩ Cameron là cho bệnh nhân trải qua liệu pháp “điện giật” với điện áp khá cao vài lần trong ngày, sau đó cho họ dùng thuốc tạo giấc ngủ sâu và kéo dài hàng tháng và tiêm thuốc gây mê LSD. Nhồi bệnh nhân liên tục như thế trong nhiều tháng, nhiều năm có thể biến họ thành những người có trí óc và năng lực hành vi như trẻ con và tước đi các kỹ năng cơ bản khiến họ không thể tự mặc quần áo hay tự buộc dây giày.

Sau đó, bác sĩ Cameron bắt đầu quy trình “tái lập trình” những bệnh nhân của mình bằng việc bơm, nhồi vào đầu họ những thông điệp ghi âm sẵn mỗi lần liên tục trong 16 giờ. Đầu tiên là những thông điệp tiêu cực về những khiếm khuyết của họ, sau đó là những thông điệp tích cực. Đôi khi những thông điệp này được lặp đi lặp lại hàng triệu lần.

Sự nhồi sọ bằng âm thanh dồn dập và mạnh đến mức có thể khiến cho họ trở nên điên dại, mất kiểm soát bản thân, có những hành vi nguy hiểm như đâm đầu vào tường. Thế là Cameron lại tiêm cho họ những liều thuốc an thần gây ngủ và thuốc gây mê LSD để họ dịu lại và nằm ngủ mê man để ông ta tiếp tục thực hiện công việc nhồi nhét thông tin nhiều và lâu theo ý muốn của ông ta. Đối với những nạn nhân rơi vào tay bác sĩ Cameron, điều đó còn kinh khủng hơn tất cả những cơn ác mộng họ từng gặp trong cuộc đời.

Bên cạnh việc trải qua liệu pháp “giật điện”, bà ngoại của Johnson còn bị tiêm thuốc LSD 14 lần. Johnson cho biết bà ngoại mình từng kể rằng sau khi tiêm thuốc LSD, bà cảm thấy như xương cốt của mình tan biến đi hết. Khi bà Orlikow nói rằng bà không thích tiêm loại thuốc này, lập tức các bác sĩ và y tá chăm sóc bệnh nói với bà những câu tiêu cực như “Bà là một người vợ tồi tệ, bà là một người mẹ tồi tệ. Nếu bà muốn tốt hơn, bà hãy làm điều tương tự thế này với gia đình bà. Hãy nghĩ đến con gái bà trước tiên”.

Viện Allan - nơi diễn ra các cuộc thí nghiệm tẩy não do CIA tài trợ.
Viện Allan - nơi diễn ra các cuộc thí nghiệm tẩy não do CIA tài trợ.

Johnson kể về tác hại của cuộc thí nghiệm lên bà ngoại mình như sau: Sau khi trải qua trị liệu tại Viện Allan, bà Orlikow đã có những biểu hiện của một người tính cách rất dữ tợn, hơn cả người điên thông thường. Bất kỳ ai lỡ va phải bà trên đường đi hay lỡ tay làm đổ nước uống lên người bà là lập tức bà bùng nổ thành một trận cuồng phong, la hét dữ dội nhưng không làm hại ai cả, không gây thương tích cho ai, rồi từ từ bình tĩnh lại.

Thời kỳ bà Orlikow vừa trải qua cuộc thí nghiệm, Johnson còn bé và rất gần gũi bà ngoại, thường xuyên ngồi cùng bà đọc sách, báo và xem truyền hình vào buổi chiều. Nhiều năm sau này, Johnson mới phát hiện ra cuộc thí nghiệm tai hại ở Viện Allan đã tàn phá bộ não bà Orlikow một cách khủng khiếp và bà đã phải nỗ lực không ngừng để tự phục hồi ký ức và những kỹ năng vốn có.

Bà thường phải mất đến 3 tuần để đọc hết một tờ báo, mất hàng tháng trời để viết xong một bức thư và mất hàng năm trời để đọc xong một quyển sách. “Nhưng bà không nản, vẫn cố gắng và cố gắng để tìm lại bản sắc vốn có của mình và làm những việc mà bà từng thích làm” – Johnson kể.

...đến cuộc chiến đòi công lý của các nạn nhân

Những câu chuyện tương tự như câu chuyện của bà Orlikow đã diễn ra khắp đất nước Canada khi rất nhiều nạn nhân khác cũng nỗ lực để tìm lại cuộc đời vốn có của mình. Alison Steel, con gái của một nạn nhân, nói với tờ The Guardian rằng cuộc thí nghiệm của bác sĩ Cameron đã gây tác hại lên cả gia đình mình. Mẹ của Alison, bà Jean Steel, đã đến Viện Allan vào năm 1957 để điều trị chứng bệnh trầm cảm sau khi mất đứa con đầu lòng.

Bà Alison Steel và bức ảnh chân dung mẹ mình.
Bà Alison Steel và bức ảnh chân dung mẹ mình.

Khi đó Alison 4 tuổi, còn bà Jean 33 tuổi, và tin tưởng rằng với uy tín và trình độ chuyên môn cao, bác sĩ Cameron có thể giúp bà thoát khỏi tình trạng bệnh này. Bà Jean được tiêm hóa chất gây ngủ, đợt đầu kéo dài 18 ngày và đợt thứ hai kéo dài 29 ngày. Sau đó, bà lại phải trải qua trị liệu “giật điện”, tiêm các loại thuốc thí nghiệm và nhồi nhét vô số những thông điệp ghi âm sẵn.

Cũng như Johnson, Alison mô tả những gì bác sĩ đã làm đối với mẹ mình thật sự rất khủng khiếp. Đó là một sự tẩy xóa suy nghĩ và cảm xúc, tước bỏ tâm hồn của một con người. Sau 3 tháng điều trị tại Viện Allan, bà Jean trở về nhà với những biểu hiện như mất hết trí nhớ và luôn luôn trong trạng thái lo âu, hồi hộp. “Bà ấy không thể nói chuyện với tôi về những điều bình thường. Bà ấy không thể cười đùa với tôi nữa” – Alison kể.

Alison kể, đôi lúc bà Jean bỗng dưng ngắt ngang câu chuyện để nói những câu không biết từ đâu ra. Alison cho rằng đó có thể là những nội dung ghi âm sẵn được nhồi nhét vào đầu bà Jean.

Dự án tẩy não tại Viện Allan ở Montreal, Canada chấm dứt vào năm 1965. Hai năm sau (1967), bác sĩ Cameron đột ngột qua đời do trụy tim khi đang leo núi. Những hậu quả nguy hại mà ông để lại cho nạn nhân và gia đình họ thì còn kéo dài. Năm 1977, báo chí Canada bắt đầu đăng tải những bí mật xung quanh chương trình MK-ULTRA và dự án thí nghiệm tại Viện Allan.

Năm 1980, một loạt phim tài liệu về dự án này mang tên The Fifth Estate đã được trình chiếu trên truyền hình và tạo nên làn sóng đòi công lý cho các nạn nhân của cuộc thí nghiệm. Tuy nhiên, cuộc chiến pháp lý để đòi lại công bằng của các nạn nhân và gia đình họ cũng hết sức gian nan.

Đầu thập niên 1990, sau nhiều năm giằng co pháp lý, chính phủ Canada đã đồng ý bồi thường cho 77 nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng về nhân cách và sức khỏe tâm thần, mỗi người được nhận 78.000 USD. Hơn 250 nạn nhân khác đã bị từ chối bồi thường vì mức độ ảnh hưởng của thí nghiệm chưa đến mức nghiêm trọng.

Từ đó đến nay, cuộc chiến đòi công lý của các nạn nhân vẫn tiếp tục. Năm 2015, bà Steel đã được chính phủ Canada bồi thường 78.000 USD. Gần đây nhất, tháng 3-2017, chính phủ của Thủ tướng Justin Trudeau tiếp tục bồi thường cho một số nạn nhân. Tổng cộng đã có 90 nạn nhân được bồi thường, số còn lại vẫn tiếp tục cuộc chiến pháp lý.

Nguyên Khang (tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.