Chuyện cổ tích về sự ra đời của nền điện ảnh Bưng Biền - Đồng Tháp

Ngày nay phương tiện nghe - nhìn đang thống soái các lĩnh vực truyền thông nghệ thuật, lại được hỗ trợ bởi sự bùng nổ của cuộc cách mạng kỹ thuật số, khiến đông đảo bạn trẻ chắc hẳn sẽ ngạc nhiên khi nghe chúng ta kể lại câu chuyện cổ tích có một không hai về sự ra đời của nền điện ảnh Bưng Biền - Đồng Tháp…

1. Lùi về quá khứ 70 năm trước, vào năm 1947, tại Sài Gòn, trai thanh gái lịch chắc không xa lạ gì với nhiếp ảnh, phim ảnh. Nhưng cái quyền thưởng ngoạn ấy thuộc đẳng cấp sang giàu. Còn đại bộ phận người nông dân ở vùng sông nước miền Tây, quanh năm vất vả kiếm sống bằng hạt lúa, con cá hẳn họ chưa bao giờ biết tới có chuyện hình người in trên miếng giấy mà giống y chang; càng không hình dung nổi có gió thổi qua rặng cây, con đò lướt đi trên kênh rạch, có người “động đậy”… trên một tấm vải căng rộng.

Có trở lại từ phần gốc gác này mới thấy hết được ý nghĩa lớn lao của việc chính quyền kháng chiến non trẻ tại Nam Bộ đã sớm biết mang nhiếp ảnh, điện ảnh về với những người cầm súng và đông đảo quần chúng cách mạng.

Trong những trang hồi ký của mình, đạo diễn Mai Lộc ghi lại: “Chính ủy Nguyễn Văn Vịnh và Tư Lệnh Trần Văn Trà rất yêu văn nghệ. Chính hai đồng chí ấy đã nhiệt tình ủng hộ việc thành lập Điện ảnh khu 8 và sau này luôn trực tiếp chỉ thị giúp đỡ mọi hoạt động làm phim, chiếu phim”.

Đạo diễn Khương Mễ cũng kể nhiều chuyện cảm động về tầm nhìn xa, trông rộng của đồng chí Lê Duẩn, lúc đó là người lãnh đạo Trung ương Cục đã nhiệt tình ủng hộ việc thành lập tổ Điện ảnh khu 8. Đồng chí Phạm Văn Bạch, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ quyết trích một số tiền lớn tới 50.000 đồng giúp Điện ảnh khu 8 mua máy quay, phim, thuốc in tráng phim…

Nhà quay phim Khương Mễ thời kháng chiến chống Pháp.

Nhà quay phim Khương Mễ thời kháng chiến chống Pháp.

Những quyết định như vậy - xin nhắc lại, đã diễn ra vào năm 1947 - cách nay đã tròn 70 năm. Kháng chiến chống Pháp vừa mới bắt đầu. Chiến sỹ Tiểu đoàn 307 anh hùng vẫn chỉ được trang bị súng trường là chủ yếu, vẫn ngủ nóp, chống lại những cơn sốt rét bằng viên ký ninh hòa vào một bát nước chia nhau uống. Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch còn đang mày mò thể nghiệm dùng nhau bà đẻ chế biến thành chất bổ philatop cấy vào bắp chân, bắp tay anh bộ đội, để tiếp thêm sức lực cho các anh…

Trong hoàn cảnh khó khăn, nhiều thử thách ấy, cảm động biết bao khi những người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã thấu hiểu, nhìn ra sức mạnh tuyên truyền, cổ súy sâu rộng, lan tỏa của chính điện ảnh – một ngành nghệ thuật vẫn còn như “một trò chơi sang” bó hẹp phạm vi hoạt động của mình ở chốn thành thị.

Cũng ngay từ những ngày xa xưa đó điện ảnh đã được nâng tầm thành món ăn tinh thần - văn hóa không thể thiếu đối với chiến sỹ, đồng bào. Cũng cần thiết, cũng cấp bách như cơm gạo, súng đạn, thuốc men trong cuộc chiến đấu chung. Chính với việc ra đời của Điện ảnh khu 8 - cơ sở làm phim đầu tiên trong cả nước - điều này không chỉ chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng mà còn là sự thấu hiểu văn hóa, nghệ thuật của những bộ óc mang tầm chiến lược

2.Nói tới sự ra đời và hình thành của Điện ảnh khu 8, cũng phải nói ngay tới tính lãng mạn của những ai dám nghĩ dám làm, trong đầu dào dạt những ước mơ quyết chí chinh phục một ngành nghệ thuật còn khá non trẻ, nhưng đầy sức hấp dẫn. Không phải vô cớ, vào năm 1995 trong lễ  kỷ niệm 100 năm ngày ra đời bộ môn nghệ thuật thứ 7, tại Paris - thủ đô nước Pháp, nhiều nhà điện ảnh thế giới khi biết tới hoạt động của Điện ảnh khu 8, khi đã tận mắt xem những bộ phim “Trận Mộc Hóa, “Trận Giồng Trôm”, “Chiến dịch Cầu Kè - Trà Vinh”, “Công binh xưởng trong rừng”… đã đồng thanh nhất trí gọi Điện ảnh khu 8 là “Điện ảnh Luymier – Bưng Biền”.

Tức các nhà điện ảnh thế giới đã đánh giá cao sự ra đời của một nền điện ảnh ngay trong khói lửa chiến tranh, hệt như khám phá ra điện ảnh lần đầu của hai anh em ông tổ điện ảnh Luymier. Làm sao có thể hình dung nổi, giữa kênh rạch nước nửa ngọt nửa mặn, với những con ghe nay đây mai đó, không điện, không nước sạch mà dám nghĩ tới việc in tráng phim.

Thiếu phim sống, thiếu thuốc in tráng, thiếu nhiều phương tiện khác nữa thì vượt qua đồn bốt địch băng vào Sài Gòn mua sắm, dù mỗi chuyến đi có thể phải đổi bằng chính tính mạng của mình. Làm sao mà không ngạc nhiên ngay ở thời kỳ đó Điện ảnh khu 8 đã dám thể nghiệm việc làm phim truyện, để lưu lại đến hôm nay những thước phim mô tả một tên lính Pháp bị nhốt vào dưới đáy của một chiếc lọ (phim “Đáng đời đế quốc”).

Và đẹp, và thơ mộng, và lung linh, huyền ảo nữa chứ. Đó là khung cảnh những buổi chiếu phim của Điện ảnh khu 8 vào những năm tháng ấy. Mỗi tối chiếu phim là một ngày hội. Người ta đi bộ, chèo ghe chèo thuyền cả 4, 5 tiếng đồng hồ để được xem phim. Phim được chiếu cho bộ đội xem ngay trước giờ xuất kích đánh đồn. Phim được chiếu ngay tại làng xóm vừa bị máy bay địch oanh tạc…

Ông Phan Văn Trai, người phụ trách máy chiếu phim, làm luôn cả việc thuyết minh phim của Điện ảnh khu 8 nhớ lại: “Nơi đặt máy chiếu luôn luôn chất đầy nước ngọt, trái cây của bà con tới xem phim mang tặng. Những chiếc ghe từ những hòn cù lao rất xa kéo tới châu mũi vào nhau. Tiếng cười, tiếng nói rổn rảng. Và khi tấm vải chiếu phim trắng toát được căng lên giữa những cây tràm, cây đước, mọi tiếng lao xao, cười đùa bỗng lặng ngắt. Tựa như bà con cô bác đang chờ đợi một phép màu nhiệm gì sẽ diễn ra từ tấm vải trắng kia. Sau buổi chiếu, theo ghe theo thuyền về là  những câu chuyện bàn tán sôi nổi, râm ran không dứt của bà con về những gì đã thấy trên phim”.

Những bộ phim đầu tiên mang chất phóng sự - tài liệu được kể tên trong cuốn Lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam hiện nay như: “Điều chế thuốc Philatop”, “Công binh xưởng trong rừng”… mỗi phim vẻn vẹn lướt qua màn ảnh nhiều lắm là 3 tới 5 phút. Nhưng vì sao những sản phẩm điện ảnh sơ khai đó lại có sức cuốn hút, hấp dẫn, tạo nên những hiệu quả cảm xúc và nhận thức trong lòng chiến sỹ, đồng bào mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục đến như vậy?

Làm phim trong rừng.
Làm phim trong rừng.

Câu trả lời không khó tìm. Bởi điện ảnh cách mạng tiếp cận với người xem trước hết và chủ yếu bằng thể loại phim “người thật - việc thật”. Còn gì cảm động hơn khi bà con cô bác xem phim vỗ tay, reo to thích thú khi nhận ra thằng Ba, thằng Tư lính Tiểu đoàn 307 vừa đóng quân ở làng mình, xóm mình tháng trước, lúc này trên màn ảnh đang xông lên bất chấp hiểm nguy trong trận đánh chặn một đoàn xe vận tải của Pháp.

Làm sao không vui, không phấn khởi được khi nhận ra dì Năm, dì Bảy làng mình, xóm mình đang gánh cơm, gánh những trái mít, trái xoài đi tiếp tế cho các đơn vị bộ đội; những Út Năm, Út Sáu với chiếc túi cứu thương bên mình, băng băng theo bén gót người chiến sỹ sẵn sàng băng bó vết thương hoặc dìu đỡ, cáng tải các anh về những trạm cấp cứu tiền phương.

Làm sao không phấn chấn, hoan hỉ được khi tận mắt chứng kiến những tên lính “mắt xanh, mũi lõ” mới mấy hôm trước từ đồn bót hung hăng mở cuộc càn vào làng xóm, hiếp đáp người, thiêu trụi nhà cửa, vườn tược, nay đang cúi gầm mặt lê gót bước đi trước mũi súng của chiến sỹ ta..

Thể loại phim phóng sự - tài liệu của điện ảnh cách mạng Việt Nam gặt hái những thành công, gây tiếng vang ra ngoài biên giới trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ chính là bắt nguồn từ thứ phim “người thật - việc thật”  mà Điện ảnh khu 8 đã đặt những viên gạch đầu tiên.

Đáng tiếc rằng, bước qua cơ chế thị trường phim “người thật - việc thật”-  tức thể loại phim phóng sự - tài liệu không còn giữ được vị trí và tác dụng như xưa, cho dù ngày hôm nay điều đáng biểu dương, đề cao và cái đáng phê phán, lên án ngày càng đan xen nhau một cách tinh vi, không dễ gì nhận biết.

3. Có một đặc điểm, cũng là một truyền thống vẻ vang nữa của Điện ảnh Khu 8 còn ít được nhắc tới: Điện ảnh khu 8 là một đơn vị làm phim trực thuộc Phòng Chính trị, Bộ Tư lệnh khu 8, còn “những nhà điện ảnh thoạt kỳ thủy” như các ông Mai Lộc, Khương Mễ, Vũ Sơn, Lý Cương, An Sơn, Phan Trọng Quỳ, Vũ Ba… chính là những người lính.

Họ được bà con cô bác thương yêu như ruột rà. Họ quá rành rõ, quen thuộc với kham khổ, với trận mạc. Bám sát diễn tiến trận đánh, bén gót đồng đội trong thử thách tử sinh - đó như là điều tự nhiên đối với những người làm phim khu 8. Làm phim để chiếu cho bộ đội và đồng bào xem – đó cũng là một điều tự nhiên nữa. Những gì diễn ra trên màn ảnh phải chân thật, phải biểu dương được cái cao đẹp, cái anh hùng để người xem phim làm theo, noi theo…

Những điều tưởng đâu như tự thân, vốn có ấy, hình thành trong hoạt động làm phim của Điện ảnh khu 8 chính là đã tạo nên diện mạo tinh thần, những chuẩn mực thiêng liêng, những quy chuẩn phải tuân thủ trong suốt mấy chục năm sau này của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam nói riêng, của nền văn hóa – văn nghệ Việt Nam nói chung. Phim ảnh phải làm được cả 3 chức năng song hành: nhận thức -giáo dục - thẩm mỹ.

Phim ảnh phải trong sạch, lành mạnh, phải hướng tới những giá trị nhân văn - nhân bản. Phim ảnh phải bắt rễ vào cội nguồn những giá trị văn hóa, đạo lý ngàn đời của cha ông. Và người làm phim luôn luôn phải bám sát đời sống, bám sát trận mạc; khi xung trận phải can trường, dũng cảm, ngang tầm đứng với người chiến sỹ cầm súng.

Cuối tháng 11 tới, tại Đà Nẵng, Liên hoan phim Việt Nam sẽ diễn ra. Trong chương trình phim dự thi giành giải - lần đầu tiên - không có phim nào dựa vào ngân sách của Nhà nước. Xã hội hóa việc sản xuất phim là yêu cầu không tránh khỏi.

Nhưng liệu rằng chúng ta có buông lơi điện ảnh không đây; có xem nhẹ sức mạnh riêng, mối tác động riêng của phương tiện nghệ thuật này, trong khi chủ trương “cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa” ngày càng chứng minh tầm quan trọng, sự cấp thiết của mình trong lĩnh vực tinh thần - văn hóa.

Tô Hoàng

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.