Cha đẻ của chương trình không gian quân sự Mỹ

Ông Bernard Adolph Schriever (14/9/1910 – 20/6/2005) còn có tên thường gọi là Bennie Schriever. Ông tốt nghiệp Trường Texas A&M vào năm 1931 và được phong hàm thiếu úy trong quân đội Mỹ. Trong Chiến tranh thế giới thứ 2, Schriever tham chiến ở khu vực Tây Nam Thái Bình Dương ở vị trí phi công oanh tạc cơ trong Nhóm tác chiến 19 cho đến khi quay về Mỹ vào năm 1943.

Sau chiến tranh, Schriever gia nhập Không lực quân sự Mỹ (USAAF) đặt trụ sở ở Lầu Năm Góc trong cương vị người đứng đầu của Nhánh liên lạc khoa học thuộc văn phòng của Phó tham mưu vật tư. Năm 1954, Schriever trở thành người đứng đầu Bộ phận phát triển phương Tây (WDD), đó là một cơ quan đặc biệt chuyên quản lý nỗ lực phát triển tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM), và ông chỉ đạo cho việc phát triển các loại tên lửa như Atlas, Thor, Titan và Minuteman.

Thời niên thiếu và thuở đi lính

Bernard Adolph Schriever là con trai cả của ông Adolf Schriever vốn làm nghề hàng hải và mẹ là bà Elizabeth (nhũ danh Milch), em trai Gerhard. Người cha là sĩ quan kỹ thuật làm việc trên tàu SS George Washington, một chiếc tàu biển của Đức bị giam giữ ở cảng New York ngay khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ vào tháng 8- 1914. Vì Đức chưa phát động chiến tranh với Mỹ nên bà Elizabeth sang New York cùng với 2 người con trai trên boong chiếc tàu viễn dương Hà Lan tên là SS Noordam để đoàn tụ với chồng.

Schriever lúc còn là phi công trẻ vào thập niên 1930.
Schriever lúc còn là phi công trẻ vào thập niên 1930. 

Người mẹ nói tiếng Anh rất tốt vì thuở con gái bà đã từng sống ở Hạ Manhattan, nhưng 2 người con trai thì chỉ biết  tiếng Đức. Ba mẹ con họ đến Mỹ vào ngày 1-2-1917, tức chỉ 2 tháng trước khi Mỹ tuyên chiến với Đức. Khi làn sóng bài Đức dâng cao khắp đất Mỹ, cả nhà Schriever lại lục tục dọn tới New Braunfels (Texas), một cộng đồng nơi có số đông người nói tiếng Đức sinh sống. Người cha làm việc trong một hãng nấu bia.

Sau đó cả nhà lại chuyển tới San Antonio (Texas), nơi người cha làm việc trong một xưởng chuyên sản xuất động cơ xăng và ông qua đời vào ngày 17-9-1918 vì một tai nạn lao động, bỏ lại 2 người con trai trong sự chăm sóc của người bác ruột tên là Magnus Klattenhoff, vốn là một chủ trang trại ở Slaton (Texas).

Sau một năm ở nhà ông bác, hai anh em lại trở về New Braunfels và người mẹ gửi 2 con vào trại trẻ mồ côi và bản thân vào làm quản gia cho ông Edward Chandler, một chủ ngân hàng giàu có, có tòa dinh thự với hàng chục gia nhân, người mẹ kiếm tiền để chuộc các con khỏi trại trẻ mồ côi. Schriever nhập tịch Mỹ năm 1923. Năm 1931, Schriever tốt nghiệp bằng cử nhân khoa học về kỹ thuật cấu trúc tại Texas A&M.

Tại Texas A&M vào những năm tháng đó, tất cả thành viên đều là sinh viên nam và họ nằm trong Quân đoàn huấn luyện sĩ quan dự bị (ROTC). Thực sự Texas A&M là một đơn vị pháo binh vì thế mà khi tốt nghiệp trường này, Schriever đã trở thành thiếu úy trong Chi đoàn pháo binh dã chiến. Năm 1932, Schriever ghi danh học lái máy bay tại sân bay dã chiến Randolph ở San Antonio. Năm 1933, ông được phong quân hàm Thượng úy.

Sau khi xảy ra vụ bê bối Air Mail, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã kêu gọi Không quân tham gia vận chuyển thư và Schriever đã đảm nhận công việc chuyển thư bằng máy bay suốt 8 tháng. Năm 1938, Schriever kết hôn với Dora Devol Brett, con gái của Thiếu tướng George H.Brett ở Khu kênh đào Panama. Họ có với nhau 3 con.

Tháng 7 năm 1942, Schriever được chỉ định làm phi công oanh tạc cơ cho Nhóm tác chiến 19 ở khu vực Tây Nam Thái Bình Dương. Ông đã thực hiện 10 nhiệm vụ chiến đấu với nhóm tác chiến này trước khi quay về Mỹ vào năm 1943. Tháng 8-1943, ông trở thành Tham mưu trưởng của Bộ tư lệnh lực lượng không quân thứ 5 (FAFSC). Tháng 12-1943, Schriever được thăng quân hàm đại tá. Vì sự cống hiến trong quân ngũ, Schriever đã được trao Huân chương dịch vụ xuất sắc.

Tháng 7-1949, Schriever theo học tại Đại học chiến tranh quốc gia (NWC). Năm 1950, Schriever tốt nghiệp và quay trở lại Lầu Năm Góc giữ chức Phó trợ lý đánh giá dưới quyền của Phó tham mưu trưởng phát triển. Ông đã thiết lập một hệ thống gọi là Các mục tiêu đang lên kế hoạch phát triển (DPOs) hứa hẹn các kỹ thuật mới sẽ bắt kịp với các sứ mạng lớn của Không lực Mỹ nhằm cải thiện những khả năng hiện có.

Đã nhiều lần Schriever đụng độ với Tướng Curtis LeMay của Bộ tư lệnh không quân chiến lược (SAC) xoay quanh một bất đồng liên quan đến dự án Động cơ đẩy hạt nhân máy bay. LeMay muốn có một oanh tạc cơ siêu thanh, nhưng các nhà khoa học và kỹ sư lại nói với ông Schriever chỉ có thể tạo ra một chiếc cận âm. Sau cùng dự án bị hủy bỏ dưới thời của Tổng thống J.F.Kennedy vào năm 1961. Schriever dự đoán rằng Liên Xô sẽ phát triển ra loại tên lửa đất đối không có thể bắn hạ oanh tạc cơ bay cao và các loại oanh tạc cơ tương lai có thể phải tấn công ở tầm thấp để tránh radar.

Liên quan đến oanh tạc cơ B-52, Tướng LeMay muốn một loại máy bay lớn hơn để có thể chở theo bom nặng hơn khi bay cao tầm xa đạt tốc độ siêu thanh, nhưng Schriever lại cho rằng dù nó có bay cao hơn thì vẫn khó tránh khỏi tên lửa đất đối không. Cuối cùng cả hai thỏa thuận phát triển Convair B-58 Hustler, một loại oanh tạc cơ hạng trung siêu thanh tầm cao. Schriever được thăng quân hàm Lữ đoàn trưởng vào ngày 23-6-1953.

“Cha đẻ” 4 dự án tên lửa

Tháng 3-1953, Schriever tham dự cuộc họp tại Ủy ban cố vấn khoa học (SAC) tại Căn cứ không quân Maxwell ở tiểu bang Alabama, khi đó Mỹ mới chỉ tiến hành vụ thử nghiệm bom hydro đầu tiên mang tên Ivy Mike vào ngày 1-11-1952.

Ông Bernard Schriever (phải) đang thị sát một đầu đạn tên lửa thử nghiệm vào tháng 5 năm 1959 với khả năng bay xa đến 8.000 km.
Ông Bernard Schriever (phải) đang thị sát một đầu đạn tên lửa thử nghiệm vào tháng 5 năm 1959 với khả năng bay xa đến 8.000 km.

Thiết bị Ivy Mike nặng tới gần 82 tấn, nhưng tại cuộc họp đó có 2 thành viên John von Neumann và Edward Teller đưa ra dự đoán rằng quả bom hydro trong năm 1960 có thể chỉ nặng chừng gần 1 tấn nhưng cường độ sức nổ lên tới 10 megaton TNT. Schriever hiểu ra ý nghĩa chiến lược: một tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) có thể được chế tạo để chở theo bom hydro. Buổi ban đầu Không lực Hoa Kỳ (USAF) có một dự án ICBM mang tên là Dự án MX-1593 khởi động từ tháng Giêng năm 1951, đến tháng 8 cùng năm thì nó đổi tên mới là Dự án Atlas. Tên lửa Atlas dự kiến sẽ nặng 200.000kg và mang theo đầu đạn hạt nhân nặng 1.400kg trong phạm vi cách mục tiêu 460m.

Nếu trọng lượng đầu đạn của tên lửa Atlas có thể giảm xuống còn 680kg thì trọng lượng của phương tiện phóng giảm xuống chỉ còn một nửa. Theo sáng kiến của riêng mình,  Schriever đã đến gặp gỡ John von Neumann tại Viện nghiên cứu tiến bộ vào ngày 8-5-1953. Von Neumann giải thích rằng các loại bom hydro với thân nhỏ và trọng lượng nhẹ sẽ được phát triển trong tương lai, và Schriever đã nghe theo. Schriever tìm thấy một đồng minh trong chính quyền Eisenhower tên là Trevor Gardner (trợ lý đặc biệt về nghiên cứu và phát triển của Bộ trưởng Không quân Mỹ).

Tháng 10-1953, Trevor Gardner thành lập một Ủy ban nhằm đánh giá các dự án tên lửa chiến lược của USAF. Trong báo cáo vào ngày 10-2-1954, ủy ban này khuyến nghị cần phải có một chương trình va chạm để tạo ra ICBM trong vòng 6-8 năm. Năm 1954, Trung tướng Thomas D. Power thúc giục đẩy nhanh Dự án Atlas “đến mức tối đa mà công nghệ có thể cho phép”.

Tháng 7-1954, Trung tướng Power thành lập một cơ quan đặc biệt mang tên Bộ phận phát triển phương Tây (WDD) nhằm quản lý nỗ lực phát triển ICBM. Buổi ban đầu dự án đặt tại Trường Thánh Joan Kim Khẩu ở Inglewood (California). Các sĩ quan bận đồ dân sự để che giấu bản chất thực sự của dự án mà họ đang làm việc.

Khi Thiếu tướng James McCormack mắc bệnh,  Schriever đã đảm nhận vai trò chỉ huy WDD vào ngày 2-8-1954. Đánh giá dự án Atlas có bản chất kỹ thuật và khoa học cao cấp nên SAC cho rằng dự án này phải có quy mô như Dự án Manhattan, bắt buộc phải có ngành công nghiệp máy bay và đội ngũ nhân sự phải làm việc linh hoạt, hiệu quả. Schriever khi quay lại SAC đã đưa ra một đề xuất táo bạo: WDD sẽ trực tiếp quản lý dự án Atlas, trong đó Ramo-Woodridge sẽ chịu trách nhiệm tích hợp các hệ thống; vai trò của Convair sẽ chỉ tập trung cho việc sản xuất bồn nhiên liệu và thân tên lửa. 

Ngày 13-9-1955, Tổng thống Dwight Eisenhower đã trao ưu tiên quốc gia cao nhất cho chương trình ICBM, còn Schriever được thăng quân hàm Thiếu tướng trong tháng 12 năm đó. Số lượng các nhà khoa học và kỹ sư làm việc cho dự án Atlas đã tăng từ 50 người (năm 1955) lên 800 người (năm 1956) và 2.000 người (năm 1957).

Ngân sách dành cho chương trình Atlas vào năm 1956 đã lên tới 326 triệu USD. Ngoài dự án Atlas, Bộ trưởng Không quân Mỹ, Harold E. Talbott, đã ủy quyền cho một dự án ICBM thứ 2 mang tên là Titan. Để tránh xung đột với dự án Atlas, tất cả các nhà thầu cho dự án Titan đều là người khác. Và còn có yêu cầu về loại tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) mang tên là Thor. Vào ngày 8-11-1955, Bộ trưởng Quốc phòng Charles Erwin Wilson đã hạ lệnh cho cả quân đội và USAF cùng phối hợp phát triển nên IRBM, với mức độ tương đương như ICBM nhưng không làm ảnh hưởng tới nó. Và Schriever đứng mũi chịu sào cho cả 3 dự án tên lửa.

Năm 1957, thêm dự án tên lửa thứ 4 mang tên Minuteman, một loại tên lửa hoạt động bằng nhiên liệu rắn hứa hẹn sẽ làm cho 2 tên lửa chạy nhiên liệu lỏng là Atlas và Titan trở nên lỗi thời. Ngày 25-9- 1957, Thiếu tướng John Medaris, người đứng đầu Hiệp hội các nhà sản xuất nồi hơi Mỹ (ABMA) thúc giục hủy tên lửa Thor với lý do nó không thể đạt tầm xa 3.200km.

Tên lửa Thor lần đầu tiên bay đến Anh vào ngày 29-8-1958. Việc triển khai Thor đến Anh được đặt mã danh Dự án Emily. Tháng 4-1959, Schriever được thăng quân hàm Trung tướng. Tướng LeMay cho rằng tên lửa chủ yếu có giá trị chính trị và chức năng chủ chốt của nó là dọn đường cho oanh tạc cơ. Phi đội tên lửa Atlas đầu tiên hoạt động chính thức vào ngày 2-9-1960 và nâng lên thành 132 tên lửa  vào tháng 12-1962.

Tên lửa Titan được triển khai vào tháng 4 -1962, với 54 tên lửa Titan đi vào hoạt động, chúng được tổ chức thành 6 phi đội, mỗi phi đội có 9 tên lửa. Tới năm 1963, Không lực Mỹ đã sử dụng 27.000 quân nhân và 37.000 nhân viên dân sự, còn Schriever chịu trách nhiệm cho 40% ngân sách của Không quân. Schriever còn lên kế hoạch chế tạo loại không vận tải công suất cao mang tên là Lockheed C-5 Galaxy.

Schriever hy vọng sẽ kế nhiệm Tướng LeMay để trở thành Tham mưu trưởng, nhưng khi LeMay nghỉ hưu vào năm 1965 thì cuộc chiến tranh Việt Nam đã leo thang, và Tướng John P. McConnell đã thay thế cái ghế của LeMay. Schriever nghỉ hưu vào ngày 31- 9-1966, tức chỉ 2 tuần trước sinh nhật lần thứ 56 của mình. Vì những cống hiến của mình, Schriever đã được trao Huân chương dịch vụ xuất sắc Không lực Mỹ. Năm 1966, Schriever nhận được giải thưởng tưởng niệm Tướng William E. Mitchell vì “sự cống hiến xuất sắc cho khoa học hàng không vũ trụ và vị thế quân sự Hoa Kỳ”. 

Trong thời gian nghỉ hưu, Schriever trở thành cố vấn cho nhiều khách hàng chính phủ và các nghiệp đoàn. Ông còn là thành viên Ban tình báo Tổng thống dưới thời Tổng thống Ronald Reagan. Năm 1982, Schriever được trao Huân chương Delmer S. Fahrney, và đến tháng 6-1998, Căn cứ không quân Schriever được mang tên ông. Năm 1997, Schriever đươc điền tên vào Đại sảnh danh vọng không gian quốc tế.

Năm 2004, Quỹ không gian đã trao cho Tướng Schriever danh hiệu cao quý nhất: Giải thưởng thành tựu không gian trọn đời Tướng James E. Hill, vốn là giải trao hàng năm cho những cá nhân xuất sắc nhất với những cống hiến trọn đời cho phúc lợi hoặc cải thiện nhân loại thông qua việc khám phá, phát triển và sử dụng không gian, hoặc công nghệ không gian. Tháng 5-2005, Tướng Lance W. Lord (chỉ huy của Bộ Tư lệnh không gian) đã trao cho Schriever huy hiệu hoạt động không gian đầu tiên. Ông Schriever qua đời do biến chứng viêm phổi tại Washington D.C vào ngày 20-6-2005, thọ 94 tuổi.

Văn Chương

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.