Câu chuyện cuối năm với Chủ tịch MTTQ Việt Nam

Luôn lắng nghe ý kiến của dân, dân chủ và cầu thị; giản dị và chân thành, ông là người tiếp tục đưa tư tưởng đại đoàn kết của Bác Hồ vào cuộc sống. Ông là Phạm Thế Duyệt, nguyên Ủy viên Thường vụ, Thường trực Bộ chính trị (khoá VIII); Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cũng như nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cuộc đời hoạt động cách mạng của ông đã trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau. Theo đó, dấu chân ông dường như đã in đậm ở nhiều nơi trên mọi miền đất nước. Đến đâu, ông cũng được người dân đón nhận với một tình cảm chân thành như những người thân trong gia đình. Gặp ông, tiếp xúc với ông, dù ở cương vị công tác nào, người ta đều thấy ở ông không có khoảng cách của một người lãnh đạo với những người dân bình thường. Vài năm trở lại đây, ông còn được coi là người của những người nghèo.

Trưởng thành từ vùng mỏ

Ông sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Cũng như bao người thuộc thế hệ ngày ấy, ngay từ năm 16 tuổi, ông đã  gia nhập đoàn thanh niên cứu quốc (năm 1952). Sau khi tốt nghiệp khoa mỏ, Đại học Bách khoa Hà Nội, bỏ qua những gợi ý ở lại trường công tác, ông khoác ba lô về vùng mỏ Quảng Ninh, nơi có phong trào truyền thống đấu tranh yêu nước ngay từ khi đất nước đắm chìm trong màn đêm nô lệ của chế độ thực dân.

Đất mỏ những năm đầu của thập kỷ 60, thế kỷ 20 bộn bề khó khăn và bức xúc thực sự cần những cán bộ kỹ thuật tâm huyết như ông. Tại phân xưởng sản xuất than của mỏ Mạo Khê, ông vừa trong vai trò là một cán bộ kỹ thuật, vừa làm việc như một công nhân thực thụ. Do vậy, chỉ ít tháng sau, từ một kỹ sư, ông được bổ nhiệm làm phó quản đốc phân xưởng rồi được cử làm trưởng đoàn cán bộ công nhân của mỏ sang thực tập, học tập đào giếng mỏ theo công nghệ hiện đại của Trung Quốc.

Trong 2 năm học tập ở nước bạn Trung Hoa, do chịu khó luyện rèn, ông không chỉ chiếm lĩnh được các công nghệ mới mà còn sử dụng khá thành thạo ngôn ngữ của bạn. Ông kể rằng, nhờ có vốn ngoại ngữ này mà sau này khi là Bí thư Thành uỷ Hà Nội, rồi thường trực Bộ Chính trị, trong những lần tiếp xúc với các đồng chí lãnh đạo Thành uỷ Bắc Kinh và lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trung Quốc, khi nói chuyện thân tình hoặc trong bữa cơm chiêu đãi, ông đều trao đổi trực tiếp mà không cần đến phiên dịch.

Cũng vốn kiến thức ấy, khi trở về nước, cùng các đồng nghiệp của mình, ông đã vận dụng vào thực tế đẩy tốc độ đào lò đá lên cao, góp phần tháo gỡ những khó khăn của đơn vị. Lăn lộn với cuộc sống người thợ, làm việc hết mình cho sự nghiệp phát triển của vùng mỏ, với ông, đất mỏ thực sự là một trường học để rèn luyện bản lĩnh, tôi luyện ý thức giác ngộ giai cấp. Có lẽ vì thế mà chẳng bao lâu từ một cán bộ kỹ thuật, ông được bổ nhiệm làm Phó quản đốc phân xưởng, Phó phòng kỹ thuật rồi Phó giám đốc, chỉ huy trưởng công trường xây lắp mỏ Mạo Khê, tiếp đến là Giám đốc mỏ Mông Dương, Giám đốc Công ty Xây lắp Cẩm Phả, và lại trở về làm Giám đốc mỏ than Mạo Khê, và Phó giám đốc Công ty Than Uông Bí. Dù ở bất cứ cương vị nào, ông cũng gắng làm tròn phận sự được giao, vẫn sống với cuộc sống của những người thợ. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, ông được bầu vào Trung ương và được giao nhiệm vụ làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Tổng Công đoàn Việt Nam và những năm sau đó là các cương vị công tác khác ở Thủ đô và Trung ương theo sự phân công của Đảng.

Câu chuyện cuối năm với Chủ tịch MTTQ Việt Nam ảnh 1

Đồng chí Phạm Thế Duyệt thăm Ban Trị sự
Giáo hội Phật giáo Đồng Nai.

20 năm gắn bó với đất mỏ, trong đó có 12 năm làm quản lý, ông nói: "Có được cái gì trong tôi hôm nay chính là bắt nguồn từ đất mỏ". Đã xa vùng mỏ gần 3 thập kỷ, song giờ đây mỗi lần trở lại, ông ngỡ như về với chính ngôi nhà của mình. Vùng mỏ tuy không phải là nơi ông sinh ra và lớn lên, nhưng nó lại là nơi tôi luyện ý chí giai cấp trong con người ông. Thời ông ở vùng mỏ cũng là lúc đất nước đang đương đầu với chiến tranh ác liệt, mọi thứ đều thiếu thốn; trên cương vị là giám đốc các xí nghiệp, công ty, ông và các đồng chí lãnh đạo đơn vị phải lo từ cái kim, sợi chỉ đến bánh xà phòng, bữa ăn cho từng người thợ. Thời đó khó khăn nhiều lắm, nhưng bù lại là tinh thần lạc quan, sống nghĩa tình và đùm bọc; dân chủ và công khai và vượt lên tất cả là tinh thần vì tiền tuyến miền Nam ruột thịt.

" Nối vòng tay lớn" xây nhà “Đại đoàn kết” cho người nghèo

Do những đóng góp cho dân tộc, cho đất nước nên năm 1999, khi ông đang trong cương vị Ủy viên Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị, ông đã được Bộ Chính trị cử kiêm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam . Thực ra trước đó, ông đã có nhiều gắn bó với công tác của mặt trận. Ngay từ những năm 1982, ông đã tham gia Ủy ban Trung ương và sau đó là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam .

Với ông, công tác của Mặt trận chủ yếu là đóng góp với Đảng và Nhà nước trong việc phát động phong trào thi đua yêu nước, qua đó mà động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng; phát huy quyền dân chủ, xây dựng hệ thống chính quyền vững mạnh, giải quyết các bức xúc của người dân; tổ chức hiệp thương các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Trong câu chuyện với chúng tôi, ông bảo rằng, "nước có mạnh thì dân mới giàu". Với suy nghĩ ấy, khi chuyển sang đảm nhận cương vị người đứng đầu cơ quan Mặt trận, một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn và có uy tín; một vấn đề mà ông thấy canh cánh trong lòng là các hộ đói nghèo ở nước ta còn chiếm tỷ lệ khá cao; đâu đó ở cụm dân cư này, xóm kia vẫn còn tình trạng vi phạm quyền dân chủ của nhân dân; vẫn còn đất cho những hiện tượng tiêu cực, cửa quyền, quan liêu, chạy theo thành tích theo kiểu: "Cờ, đèn, kèn, trống" rồi tệ nạn xã hội và tội phạm vẫn là nỗi lo của nhiều người dân ở nhiều khu dân cư.--PageBreak--

Trước những bức xúc ấy, ngày 17/10/2000, thay mặt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông đã cùng Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch phát động phong trào làm nhà cho người nghèo. Trong tâm khảm của ông vẫn lưu giữ tâm niệm: "Dân chưa giàu, thì nước không thể mạnh". Phong trào ấy được các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, đoàn thể, quần chúng và nhân dân ở mọi miền đất nước hưởng ứng sôi nổi. Đến nay, sau 4 năm kể từ ngày phát động đã có hơn 26 vạn ngôi nhà được xây dựng và tu sửa, trong đó có gần 18 vạn ngôi nhà xây mới.

Mấy năm trước, Mặt trận đặt tên cho các ngôi nhà ấy là: “Nhà tình thương”. Nhưng từ năm 2003 trở lại đây, nó được đổi sang một cái tên mới: Ngôi nhà “Đại đoàn kết”. Có thể nói, chưa bao giờ các ngôi nhà “Đại đoàn kết” lại mọc lên ở hầu hết các vùng quê của tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Điều đáng phấn khởi là ngôi nhà “Đại đoàn kết” đang thu hút sức mạnh của toàn dân; của các ngành, các đơn vị, doanh nghiệp, người hảo tâm cũng như nhân dân ở các phường, xã.

Giờ đây, nhiều địa phương đã và đang thực hiện xã hội hoá phong trào xây dựng các ngôi nhà cho người nghèo bằng nhiều hình thức phong phú. Trong đó phải kể đến Đoàn Thanh niên thành phố Hải Phòng nhận xây 500 ngôi nhà “Đại đoàn kết” trong thời gian 5 năm, nhưng chỉ trong 3 năm, thế hệ trẻ ở đây đã hoàn thành mục tiêu mà họ đề ra. Tiếp đến là Tổng Công ty Than Việt Nam, chỉ trong năm 2004, bằng những nguồn vốn do cán bộ, công nhân viên đóng góp và quỹ phúc lợi, đơn vị đã xây dựng 300 ngôi nhà cho người nghèo tại huyện Ba Chẽ. Và cũng vì tấm lòng với người nghèo mà đến nay trên phạm vi toàn quốc đã có 3 tỉnh; 42 huyện, thị, hơn 1.000 xã đã về đích: Xoá xong các nhà dạng tranh, tre dột nát… thay vào đó là các ngôi nhà “Đại đoàn kết” khang trang.

Một điều nữa cũng phải nêu ra là không phải ngẫu nhiên mà 2 năm trở lại đây, như đã hẹn trước với người nghèo, cứ vào đêm chuyển giao năm cũ sang năm mới (31-12), Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lại phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức một đêm "Nối vòng tay lớn". Đêm đó được coi là đêm Tết của những người nghèo. Cảm động lắm, sôi động lắm và chính trong đêm ấy, qua màn ảnh nhỏ, khán giả cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài lại thấy sự xuất hiện của ông Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đứng ra tiếp nhận những đồng tiền của các nhà hảo tâm trong cả nước dành cho đồng bào nghèo. Triệu ánh mắt, con tim đều hướng tới ông, về một người có trái tim nhân hậu dành cho người nghèo.

Có một câu chuyện cảm động mà có lẽ cả đời ông sẽ không quên diễn ra đêm 31/12/2003. Sau khi nhìn thấy 4 cháu bé quê ở Quảng Ngãi có bố và mẹ đều mất được tường thuật trong đêm "Nối vòng tay lớn"; sáng hôm sau một nhà hàng ăn ở quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) tìm đến nhà để gặp ông Phạm Thế Duyệt và nhờ ông chuyển giúp món tiền 500.000đ cho 4 cháu nhỏ nói trên và ngỏ ý sẵn sàng nuôi các cháu trưởng thành. Rồi còn biết bao câu chuyện khiến ông rất xúc động và cảm kích khi đi dự các buổi lễ trao nhà “Đại đoàn kết” cho bà con nghèo ở các địa phương. Ông có ngờ rằng buổi lễ khánh thành ngôi nhà tình nghĩa ấy lại trở thành ngày hội của người dân ở buôn làng, bản ấp.

Người đưa chính sách "Đại đoàn kết" vào cuộc sống

Trong cuộc đời hoạt động và trên cương vị công tác của mình, không rõ ông đã tiếp bao chính khách, chính giới, chức sắc trong các đoàn thể, tôn giáo, Việt kiều… Trong số họ, có khá đông những người mà trước đây họ đứng ở bên kia chiến tuyến. Giờ đây đất nước đã hoà bình, non sông thu về một mối, nhiệm vụ mới đặt trước toàn Đảng, toàn dân ta là phải thực hiện cho được mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Trong đó nhiệm vụ của Mặt trận phải là nơi đoàn kết mọi tầng lớp trong xã hội, cộng đồng người Việt trong nước và nước ngoài góp phần dựng xây đất nước.

Nhận trách nhiệm là người đứng đầu cơ quan Mặt trận, ông hiểu rằng, cái gì có lợi cho nước, cho dân là làm. Trước đây người ta có lỗi với đất nước, nay người ta đã hối cải, phải gặp gỡ, thuyết phục họ, hướng họ vào những việc làm có lợi cho dân tộc. Với tác phong cầu thị và sâu sắc, với cử chỉ thân thiện và tình người, những năm qua hầu như các Toà Giám mục Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình đến Bùi Chu, Phát Diệm, các Toà Giám mục ở Thanh Hoá, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Phan Thiết, Đồng Nai, Lâm Đồng, Kon Tum, Đắk Lắk, Bình Dương, Vĩnh Long, An Giang, thành phố Hồ Chí Minh v.v… ông đều đến thăm và gặp gỡ các cụ giám mục ở đây. Qua những lần như thế, họ đều coi ông như những người thân thiết. Nhiều nhân vật nổi tiếng trong giới nghệ sĩ và chính quyền Sài Gòn nay định cư ở nước ngoài như ông Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ v.v… khi tiếp xúc ông, đều có tình cảm, ấn tượng tốt, qua đó họ hiểu và ý thức được cần làm những việc có ích cho cộng đồng và dân tộc.

Đến thăm ông vào những ngày cuối năm 2004, chúng tôi vẫn giữ nguyên ấn tượng về ông - một nhà hoạt động chính trị - xã hội, một đồng chí đã từng giữ nhiều cương vị trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và bây giờ là Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng ông vẫn vậy - một con người giản dị, đức độ, chân thành, luôn luôn tôn trọng và gần gũi với dân

Các tin khác

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.