Cadière – nhà Việt Nam học kiệt xuất

Trong gần một thế kỷ thực dân Pháp đô hộ nước ta, cũng có rất nhiều người Pháp là nhà khai sáng mà tên tuổi của họ còn mãi với thời gian.

Đó là Alexandre de Rhodes - một nhà truyền giáo dòng Tên đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ Quốc ngữ Việt Nam hiện đại. Đó là bác sĩ, nhà thám hiểm Yersin, người tìm ra cao nguyên Lâm Viên (Đà Lat).v.v...

Linh mục thừa sai Leopold' Cadierè cũng là con người kiệt xuất như vậy. Ông đã trở thành “người Việt Nam” từ trẻ và dành cả đời mình nghiên cứu văn hoá Việt, và để lại tên tuổi lẫy lừng.

Leopold' Michel Cadierè sinh năm 1863, đến Việt Nam năm 1892, làm việc tại giáo phận Huế. Năm 1895, Cadierè trông coi xứ đạo Tam toà và hạt Quảng Bình 14 năm. Từ năm 1918 đến 1945, sống tại Di Loan, Cửa Tùng với tư cách quản xứ giáo hạt Đất Đỏ.

Tháng 1-1947 đến tháng 6-1953: 6 năm rưỡi, làm việc tại Vinh, hội viên danh dự của trường Viễn Đông Bác Cổ. Ngài không chịu “hồi huơng” về Pháp. Ngài nói: “Cả đời tôi, tôi đã dâng cho xứ sở này. Cho tôi được ở lại và chết ở đây!”. Ngài mất ngày 6-7-1955 và được an táng tại nghĩa trang Đại chủng viện Huế ở Kim Long như ước nguyện, thọ 86 tuổi.

63 năm ở Việt Nam, Cadierè đã trở thành nhà bác học kiệt xuất về văn hoá Việt, văn hoá Huế. Đến nỗi hiện nay, tất cả các luận văn Ths, TS nghiên cứu về văn hoá triều Nguyễn, văn hoá dân gian Huế đều tham khảo chủ yếu từ các công trình của ông. 

30 năm (1913-1944 ), Cadierè là chủ bút tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH) là một tạp chí khoa học có giá trị nhất Đông Dương thời đó, chuyên viết về các vấn đề văn hoá, lịch sử, địa lý, nghệ thuật, tôn giáo, phong tục, mỹ thuật, ngôn ngữ, dân tộc học...

Đó là công trình đặc sắc nhất của ông. Sở dĩ tạp chí BAVH suốt 100 năm qua vẫn hấp dẫn người đọc vì nội dung của nó vô cùng khách quan và phong phú, rất chi tiết, cụ thể từng việc một. Nội dung BAVH nghiên cứu, khảo sát gồm 5 mảng chính: Kinh thành Huế và phụ cận; lịch sử Huế và An Nam; nghệ thuật xứ Huế; ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hoá dân gian xứ Huế và các đề tài khác. 

Tạp chí BAVH bằng tiếng Pháp đã được NXB Thuận Hoá, Huế dịch sang Việt ngữ, với tựa đề Những người bạn của Cố Đô Huế. Đã ấn hành được 30 tập (mỗi năm một tập), mỗi tập dày bình quân 500 trang khổ 14,5 x 20,5 cm.  Việc dịch ra tiếng Việt đã tiếp sức cho tạp chí Những người bạn cố đô Huế tiếp tục sống và lan toả rộng hơn trong tầng lớp trí thức trẻ thời hiện đại.   

Cadierè có 250 công trình nghiên cứu Việt Nam học uyên bác về nhiều lĩnh vực văn hoá, tín ngưỡng và dân tộc học, ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo Việt Nam, đa phần in trong BAVH. Các bài ông viết thời đó gộp lại có tới 1.500 trang. Ông là một trong những người đặt nền móng cho việc nghiên cứu Việt Nam học đầu TK20. 

Ông đã xuất bản bộ 3 tập Tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt. Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, Cadierè vẫn là một tấm gương sáng cho mọi người có tinh thần dân tộc, để tìm ra con đường xây dựng và canh tân đất nước bằng văn hoá.

Tại sao các công trình nghiên cứu Việt Nam học, Huế học của Cadierè lại có giá trị trường tồn như vậy? Bởi vì các tác phẩm của ông đều viết ra từ máu thịt, không tầm chương trích cú, mà đi thực địa, nghiên cứu, ghi chép tỉ mỉ. Để làm được việc đó, ông tự học và nói sõi tiếng Việt, có thể suy nghĩ  bằng tiếng Việt ngay những năm đầu tới Huế. 

Trong lời tựa cuốn Syntaxe, Cadierè giải thích: “Trong chừng mực có thể được, tôi cố sao... chỉ lấy những câu, những kiểu nói của chính người Việt nói ra để vạch rõ cái giá trị của câu nói đó được dùng làm phương tiện để diễn đạt ý nghĩ gì..”.

Cadierè nghiên cứu trực tiếp từ những thông tục và từ những con người tắm gội trong thông tục, văn hoá, chứ không dựa trên các cơ sở dữ liệu hoặc những nghiên cứu có sẵn. 

Xin nêu một ví dụ cụ thể khi miêu tả về lễ tế Nam Giao, Cadierè ghi: “Các thị lập của tùng đàn bưng lụa, kính cẩn để trong các lư liệu bằng đồng sau các án thờ”. 

Để tìm hiểu tín ngưỡng người Việt, tác giả đã ghi nhận những truyện kể, ở những làng Cù Lạc, làng Tróc, làng Thanh Hà... với các nhân chứng tại chỗ: ông Xòi, ông Dương, chú Nhượng hoặc ông Bé làng Bùng, chú Hạp người Nội Hà v.v...; quan sát từng gốc đa, gốc sanh, từng hòn mốc, hòn trấn có nêu rõ địa danh: từ nhiều thôn làng tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, đến An Cựu, Phù Lương, La Vân tỉnh Thừa Thiên, với 58 hình ảnh minh hoạ. Chứng tỏ tác giả đã (đi bộ) đến tận nơi quan sát và vẽ lại đúng hiện trường. 

Để hiểu rõ các phép ma thuật trừ tà, trừ ma, Cadierè đã sống tại thực địa với những mùa dịch tả ở Quảng Trị; hoặc chăm chú theo dõi những thực hành dân gian với chú lính gác vái lạy trước tấm bia đá ở Đông thành Thuỷ Quan, Huế, đồng thời kết hợp với tế lễ của hàng vương đế tại Nam Giao với từng nghi thức lớn nhỏ. 

Ví dụ trong bài Mồ mả của người Việt vùng quanh Huế. (BAVH, XV, 1928, tr1-99.): Mồ mả vua chúa được nghiên cứu đã đành, bên cạnh đó, phần mộ dân gian cũng được quan tâm từ phần đất cho đến mộ bi, cách bài trí để từ đó rút ra những gì là quy ước, thông tục có tính cách nhất quán.

Theo L. Cadierè: “Học tiếng Việt không phải chỉ để nói giỏi như họ, mà còn phải tâm tư, suy nghĩ như họ”. 

Ông cho rằng, ngôn ngữ bình dân thường gói trọn sắc thái văn hoá một cách đầy đủ, nhất là trong ngạn ngữ dân gian. Với 27 năm sống ở Di Loan, Quảng Bình, Cadierè đã thu thập được một lượng ngôn ngữ bình dân đáng kể, gói ghém toàn bộ những nghĩ suy, đượm văn hoá và tín ngưỡng. 

Cadierè kể lại đã có lần sau khi giảng cho giáo dân, mới phát hiện rằng ngôn ngữ mà mình đang sử dụng, học qua sách vở, là một thứ ngôn ngữ ít nhiều “giả tạo”, rất ít hiệu năng. Từ đó, ông thâm nhập sâu xa vào quần chúng, học ngôn ngữ của họ và tập “ăn nói” như họ. 

Thật ngạc nhiên, ngay cả rất nhiều người Việt chúng ta vẫn chưa biết được con số “vô hạn định” của người Việt là con số ba và con số bảy, Cadierè đã đưa ra được nhận xét ấy và dẫn chứng với những ngạn ngữ dân gian, chứng tỏ ông đã nghiên cứu tiếng Việt kỹ đến mức độ nào: Làm xấp ba xấp bảy; ăn xấp ba xấp bảy; ba chìm bảy nổi; ba chìm bảy nổi, chín nhấp nhu; ba lừa bảy lọc; ba lo bảy liệu; ba vuông bảy tròn...

Cadierè là người Pháp, nhưng rất am tường tục miếu thờ thần thánh ở xứ Việt. Ông không cho đó là mê tín dị đoan mà là đời sống tâm linh. 

Ông viết: “Phải có lần được nghe tiếng kêu la hãi hùng của dân làng vội vã tán loạn, tìm con, tìm người già lão; phải có lần thấy ánh lửa đỏ ngầu vút lên trong đám khói đen cuồng nộ cùng tiếng mắt tre kèo, cột, mái nhà nổ vang như tiếng đại bác để rồi hôm sau thấy tận mắt cảnh tang thương của những vết tích còn lại, nhất là phải tự thân gánh chịu cái tai ương khủng khiếp ấy thì mới hiểu được người Việt sợ hoả hoạn như thế nào, thì mới biết tại sao họ đã nghĩ những tai ương kia là do thần thánh, thì mới hiểu được cách họ xử thế đối với mọi tai ương xảy đến, kể cả những trường hợp nhỏ nhặt nhất”. 

Hoặc: “Ai đã không từng chứng kiến ít nhất là một lần trong đời những trận ngập lụt đột ngột, nhiều khi hàng giờ, nước phủ trùm hết cả vùng, kéo theo đàn gia súc, mang trôi đi nhà cửa, phủ lấp ruộng đồng, làm thối vữa ngay trước mắt mình khoai lúa, mùa màng cóp nhặt được, để rồi sau đó hàng tháng dài đói khát, khốn cùng, dịch bệnh giết chết hàng loạt dân làng”. 

Thế mới biết tại sao người Việt phải tin hà bá, phải cúng thần mốc, phải thờ những viên đá trấn.

Ngay cả ý niệm về “trời tròn đất vuông”, Cadierè đã phát hiện được trong dân gian, trong cách ăn nói của lớp quần chúng, dù rằng không minh thị, là đất không “vuông” nên mới gọi là “trái đất, quả đất”; Như vậy, ngoài ý niệm “tròn”, trái đất còn treo lơ lửng. Đó là một hình ảnh rất ngoạn mục. Không chỉ uyên sâu tiếng Việt, Cadierè còn giỏi cả chữ Hán, nhờ đó thông hiểu được một cách sâu xa những tàng ẩn ý vị của ngôn ngữ. 

Lúc nào cũng có các chú thích Hán tự để làm rõ thêm vấn đề và mang tính thuyết phục cao. “Tôi hiểu người Việt bởi vì tôi nghiên cứu kỹ về họ... Nghiên cứu và hiểu họ nên tôi yêu mến họ... Tôi yêu mến họ vì tính tình của họ... ”. “Ý niệm về Trời của người Việt giống nhau lạ lùng với ý niệm về hữu thể siêu việt ở các bộ tộc sơ khai. Trời không phải là một vị thần, ít nhất là trong thông tục dân gian, đó là “Ông Trời” và hình như thuộc về thế giới siêu việt. 

Hoàng đế tế Trời một cách trọng thể, Cadierè  đã có một tâm thức rất đặc biệt về dân tộc mà ông dày công nghiên cứu: “Phải thừa nhận rằng người Việt nói cho đúng sống trong thế giới siêu nhiên. Người Âu châu dẫu sùng đạo, thường vẫn không sống hết toàn bộ thời gian với Thượng đế của mình. Người Việt, ngược lại, cho dù giai cấp nào, đều cảm thấy mình trực tiếp thường xuyên với các thần thánh trong thiên nhiên”.

Công lao to lớn về nghiên cứu văn hoá Việt, văn hoá Huế của Cadierè làm cho nhiều thế hệ người Việt Nam tôn vinh, ngưỡng mộ. Bản dịch ra tiếng Việt của NXB Thuận Hoá Những người bạn của cố đô Huế không bỏ sót một bài nào, kể cả những bài các tác giả Pháp và Việt viết theo quan điểm riêng của họ. Đây là một bộ sách giá trị trong di sản cố đô Huế. 

Chính nhờ các công trình nghiên cứu uyên thâm của Cadierè, khởi đầu bằng tiếng Pháp, thế giới mới biết đến một phần văn hoá, lịch sử Việt Nam, nhất là văn hoá, nghệ thuật, kiến trúc, lịch sử của Huế và miền Trung Việt Nam. 

Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, một nhà nghiên cứu Huế xưa, trong bài viết Tưởng nhớ nhà Huế học Leopold' Cadierè (Lao động, 23-6-1994) đã hết lời ca ngợi: “Huế đã được công nhận di sản thế giới. Để có được sự công nhận ấy, một thế kỷ qua, nhiều nhà Huế học, nhà văn, nhà nghiên cứu đã đóng góp biết bao công trình để giới thiệu Huế với thế giới. Người được tôn là bậc thầy trong công việc này là Leopold' Cadière..”.

Những sưu tầm thực địa sâu sát say mê như không biết mệt mỏi của Cadierè đã cung cấp những kiến thức vô giá về dân tộc Việt Nam. Tư tưởng và phương pháp làm việc của Cadierè đã tiên phong soi sáng cho nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đầu TK XX và sau này.

Trên tạp chí Sông Hương số kỷ niệm 100 năm ra đời tạp chí BAVH, Lê Vũ Trường Giang viết: “Ngay từ 100 năm trước, bàn về phong hoá của xã hội Việt Nam trước làn sóng Tây hoá, linh mục Leopold' Cadierè đã đưa ra cảnh báo: “Dù thế nào đi nữa, sự thật vẫn là các thế hệ mới trong các đô thị không bằng các thế hệ cũ về phương diện đạo đức”. 

Thiết nghĩ cho đến nay, những lời kêu gọi kia vẫn còn có ý nghĩa, bởi vấn đề nói trên chính là nền tảng đầu tiên để kiến tạo những giá trị Việt mà Những người bạn cố đô Huế đã nhìn nhận được... 

Linh mục Leopold' Cadierè còn nhắc nhở: “Đừng quên rằng, chúng ta có một mục tiêu thật tiễn. Chúng ta phải tự tìm kiếm và giữ lại để nêu lên các kỷ niệm về kinh thành Huế”. 

Đó thật sự là tấm gương đáng học hỏi về trách nhiệm của công việc “tìm kiếm” những trầm tích văn hoá Huế, những người đã góp phần gìn giữ hồn xưa xứ Huế. Cadierè đã cống hiến tất cả cuộc đời cho ngôn ngữ học nói riêng và cho văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung”. 

Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba trong Văn tế cố cả Leopold' M. Cadierè, nhà Việt học tiên phong đã vẽ chân dung Cadierè rất đẹp:

“Áo dài đen phất phơ lắm miền xuôi ngược, tìm hiểu thêm phong hoá dân gian; 
Đôi guốc mộc lóc cóc bao chốn xuống lên, thăm dò đến sơn cùng thuỷ triệt.
Hội Đô Thành Hiếu Cổ, vài ngàn trang thâm cứu, điều nghiên cùng chuyên khảo kinh đô;
Động Phong Nha - Kẻ Bàng, hơn chục chuyến gian lao, thám hiểm rồi tôn vinh địa huyệt.

...Việt, Mường, Nôm, Hán,... bao ngôn ngữ tinh thông;
Địa, Sử, Triết, Văn... mấy phân khoa quán triệt.
Gom mảnh đá từ thời tiền sử, thấu hiểu ra nguồn cội man sơ;

...

Đọc tấm bia có thuở tiên triều, kể rõ lại chiến trường khốc liệt.
Áo bà ba giản dị, “ông nhà quê” lũ trẻ gọi lơ ngơ;
Nón lá cũ đơn sơ, nhà bác học bao người khen khôn xiết...

Người chấp bút xin dâng bài viết lên hương hồn nhà bác học Leopold' M. Cadierè, một nhà Việt Nam học vĩ đại.

Ngô Minh

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.