Bí mật vụ phá hủy nhà máy nước nặng Vermork – Na Uy

Đêm 27 rạng ngày 28-3-1943, một nhóm biệt kích 8 người thuộc Cơ quan Hành động đặc biệt Anh Quốc (Special Operations Executive - viết tắt là SOE) cùng 6 điệp viên người Na Uy đã phá hủy nhà máy sản xuất nước nặng Vermork, đặt cạnh thác nước RjukanởTelemark, Na Uy, bị Đức Quốc xã chiếm đóng từ năm 1940. Tiếp theo, trên hồ Tinn cũng thuộc lãnh thổ Na Uy, một nhóm biệt kích khác đánh chìm chiếc phà chở 1.500kg nước nặng về Đức.

Kết quả là Đức Quốc xã không thể chế tạo thành công quả bom nguyên tử đầu tiên trong lịch sử để hủy diệt nước Anh…

Bài 1: Hiểm họa cận kề

Bối cảnh của vụ phá hủy nhà máy nước nặng Vermork

Được xây dựng năm 1934 bởi Công ty Norsk Hydro, Na Uy, nước nặng của nhà máy Vermork là sản phẩm phụ thu hồi được từ việc sản xuất amoniac dùng làm phân bón. Nếu như trong loại nước bình thường người ta vẫn sử dụng hàng ngày, chỉ có một nguyên tử deuterium cho mỗi 6.400 nguyên tử hydro nhưng trong nước nặng, số nguyên tử deuterium là 48. Nó sinh ra trong quá trình điện phân hydro để lấy amoniac và thời điểm ấy, Vermork là nhà máy đầu tiên trên thế giới sản xuất nước nặng, công suất 12 tấn/năm.

Cũng trong năm 1934, Enrico Fermi, nhà vật lý người Mỹ cùng các cộng sự đã thành công trong việc dùng hạt neutron để bắn phá nguyên tử uranium - là chất chủ yếu dùng làm bom nguyên tử. 4 năm sau, Otto Hahn, nhà hóa học Đức, phát hiện một chi tiết cực kỳ quan trọng - là nền tảng cho việc hình thành những quả bom nguyên tử về sau này. Đó là nếu kiểm soát được phản ứng dây chuyền xảy ra trong quá trình bắn phá nguyên tử uranium bằng neutron, sẽ phát sinh một nguồn năng lượng cực kỳ to lớn, và loại vật chất có thể kiểm soát neutron chính là nước nặng!

Nhà máy nước nặng Vermork.
Nhà máy nước nặng Vermork.

Cũng cần nói thêm rằng sau khi Đức Quốc xã đầu hàng - ngày 7-5-1945 - Otto Hahn ra trình diện người Mỹ rồi cùng một số nhà khoa học khác, giúp nước Mỹ chế tạo 2 quả bom nguyên tử ném xuống 2 thành phố Nhật Bản Hiroshima, Nagasaki trong các ngày 6 và 9-8-1945.

Ngày 9-4-1940, Đức Quốc xã chiếm Na Uy. Trước đó, mặc dù Na Uy là quốc gia trung lập nhưng do đã tiên lượng, đồng thời biết được phát hiện của Otto Hahn trong việc kiểm soát neutron bằng nước nặng nên Cơ quan Tình báo quân sự Pháp Deuxième - thường được gọi là Phòng Nhì - đã cử ba sĩ quan là trung tá Mossé, đại úy Muller và đại úy Knall Demars đến Na Uy, hỏi “mượn” ông Albert, giám đốc nhà máy Vermork toàn bộ 185kg nước nặng rồi chuyển về Pháp vì sợ nó lọt vào tay quân Đức.

Năm 1941, khi Đức Quốc xã chiếm nước Pháp, nhà khoa học hạt nhân người Pháp là ông Frédéric Joliot Curie - chồng bà Marie Curie và cũng là nhà khoa học hạt nhân, đã chôn giấu 185kg nước nặng ấy trong hầm Ngân hàng Banque de France rồi chuyển nó đến Bordeaux, đưa lên tàu Broompark, chạy sang Anh quốc.

Tuy nhiên, do nhà máy Vermork vẫn còn đủ khả năng sản xuất nước nặng nên với Anh quốc nói riêng và phe Đồng minh nói chung, Vermork là một hiểm họa cận kề vì Đức Quốc xã sẽ dùng nó để chế tạo bom nguyên tử .

Vì vậy, phá hủy nhà máy Vermork là yêu cầu cấp thiết của phía Đồng minh. Gần 1 năm sau ngày Đức chiếm Na Uy, Cơ quan Hành động đặc biệt Anh quốc chỉ thị cho 4 điệp viên nằm vùng người Na Uy ở cao nguyên Hardanger, phía trên nhà máyVermork, chuẩn bị đón một nhóm biệt kích SOE.

Do tính sai hướng gió lúc nhảy dù, nhóm biệt kích mất 3 ngày di chuyển mới gặp được 4 điệp viên Na Uy. Hệ quả là lúc điệp viên Na Uy mở điện đài liên lạc với Trung tâm chỉ huy SOE thì nơi đây nghi ngờ cả nhóm đã lọt vào tay quân Đức bởi lẽ theo kế hoạch, 12 tiếng đồng hồ kể từ khi nhóm SOE nhảy dù rồi khi gặp nhau, phía Na Uy phải báo cáo về London nhưng họ lại im lặng suốt 3 ngày.

Theo nhận định của SOE, có thể Cơ quan Tình báo quân đội Đức Abwehr đang chơi trò “tương kế tựu kế, gậy ông đập lưng ông” nên câu đầu tiên trong cuộc điện đàm, SOE hỏi theo mật mã đã quy ước để chắc chắn rằng nhóm SOE và 4 điệp viên Na Uy không bị người Đức khống chế: “Bạn thấy gì sáng nay?”. Điệp viên Na Uy đáp: “Ba con voi màu hồng”.

Câu trả lời đúng quy ước đã khiến SOE tin rằng các điệp viên của họ và nhóm biệt kích vẫn an toàn nhưng rủi thay, cuộc điện đàm bị bộ phận mã thám của Cơ quan Tình báo quân đội Đức Abwehr phát hiện, nhóm SOE và 4 điệp viên phải chạy trốn vì bị lính Đức săn lùng nên kế hoạch đặt mìn phá hủy nhà máy nước nặng Vermork bị hủy bỏ.

Ngày 19-10-1942, một lần nữa SOE tiếp tục thực hiện một chiến dịch, đặt tên là Freshman, cũng với mục đích phá hủy nhà máy Vermork. Bằng cách sử dụng 2 tàu lượn Airspeed Horsa, mỗi chiếc gồm 2 phi công điều khiển và 15 biệt kích, được kéo bởi 2 máy bay ném bom Handley Page Halifax, cất cánh từ sân bay Skitten, Anh quốc, dự định hạ cánh xuống mặt hồ Mosvatn đã đóng băng, gần nhà máy Vermork.

Nhóm SOE và các điệp viên Na Uy trong kế hoạch đột kích lần đầu tiên nhưng thất bại.
Nhóm SOE và các điệp viên Na Uy trong kế hoạch đột kích lần đầu tiên nhưng thất bại.

Tuy nhiên, do đường bay khá dài, thời tiết lại rất tồi tệ, tầm nhìn kém nên một chiếc Handley Page Halifax đã đâm vào một ngọn núi, giết chết tất cả phi hành đoàn trên máy bay cũng như các biệt kích trên tàu lượn. Chiếc thứ hai bay gần đến đích thì lại không thể xác định chính xác vị trí thả tàu lượn vì không thấy đèn hiệu của 9 điệp viên Na Uy ở dưới mặt hồ nên phi công quyết định quay về.

Thế nhưng do gặp phải một cơn giông, sợi dây kéo nối giữa máy bay và tàu lượn bị đứt khiến chiếc tàu lượn phải hạ cánh khẩn cấp. Ngoài một số biệt kích chết ngay tại chỗ, số còn lại bị Cơ quan mật vụ Đức Quốc xã Gestapo bắt, bị tra tấn rồi bị hành hình.

Chiến dịch Gunnerside

Sau khi chiếm được nhà máy nước nặng Vermork, Đức Quốc xã lập tức đẩy nhanh chương trình nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử dưới sự lãnh đạo của Otto Hahn. Từ tháng 6-1940, nhà máy Vermork bắt đầu sản xuất nước nặng với công suất 100kg/tháng.

Theo tính toán của Otto Hahn, để làm ra một quả bom nguyên tử thì phải cần đến 5.000kg nước nặng nên Hitler đã ban hành một chỉ thị đặc biệt, yêu cầu phải bảo vệ Vermork bằng mọi giá, nhất là sau cuộc đột kích bất thành của nhóm SOE trong Chiến dịch Freshman.

Về phía 9 điệp viên Na Uy thoát chết sau Chiến dịch Freshman, bị quân Đức săn đuổi, cả nhóm phải trốn vào những hang núi, sống bằng rong rêu, địa y và thịt tuần lộc chết trong suốt mùa đông. Ở London, Bộ Chỉ huy SOE sau nhiều phiên liên lạc, họ tin rằng các điệp viên của họ vẫn còn sống và vẫn an toàn nên SOE quyết định tung ra một chiến dịch nữa, gọi là Chiến dịch Gunnerside.

Để chuẩn bị cho Chiến dịch Gunnerside, trong các ngày 11, 12-2-1943, các máy bay Halifax của Không quân Hoàng gia Anh lần lượt thả xuống các vị trí cách nhà máy Vermork từ 5 đến 8km những thùng chứa lương thực, trang thiết bị và 6 biệt kích người Na Uy. Cũng trong ngày 12-2, 8 biệt kích SOE chỉ huy bởi thiếu tá Jens-Anton Poulsson nhảy dù xuống.

Đến ngày 16-2, nhóm SOE và nhóm Na Uy - kể cả 9 người trước đó trốn trong hang núi - gặp nhau. Họ thống nhất cuộc tấn công phá hủy nhà máy nước nặng Vermork sẽ được tiến hành vào nửa đêm ngày 27, rạng sáng ngày 28. Các cuộc trinh sát của biệt kích SOE diễn ra vào các đêm 19, 20, 21-2 cho thấy sau Chiến dịch Freshman, quân Đức đã gài mìn ở những nơi nghi ngờ quân Anh có thể dùng để đột nhập, đồng thời đặt thêm nhiều đèn pha, bố trí các đội tuần tra xung quanh nhà máy.

Riêng với cây cầu dài 75m  bắc qua sông Mana, cửa ngõ chính dẫn vào nhà máy, được bảo vệ bởi 1 đại đội đặc biệt tinh nhuệ SS cùng 4 xe bọc thép và nhiều súng đại liên.

Về phía nhóm biệt kích, theo kế hoạch, họ sẽ xuất phát từ dưới khe núi, cách chỗ cây cầu bắc qua sông Mana 2km. Tiếp theo, họ  vượt sông Mana đã đóng băng rồi leo lên ngọn đồi đối diện với nhà máy Vermork. Sau đó họ đi dọc tuyến đường sắt dẫn thẳng vào sân nhà máy. Một điệp viên người Na Uy nằm vùng trong nhà máy là Skinnarland trước đó đã cho biết tuyến đường sắt không hề có lính canh vì quân Đức tin rằng người Anh không thể nào đi lên từ dưới khe núi vì nó cao 372m với hầu hết là những gờ đá dựng đứng, lởm chởm.

Nhóm SOE trong chiến dịch Freshman ra khỏi tàu lượn lúc nó bị rơi.
Nhóm SOE trong chiến dịch Freshman ra khỏi tàu lượn lúc nó bị rơi.

Vẫn theo thông tin của điệp viên Skinnarland, khi đã lọt vào bên trong căn hầm đặt các máy điện phân hydro để cho ra amoniac cùng sản phẩm phụ là nước nặng, người duy nhất mà nhóm biệt kích sẽ gặp là Johansen, thợ bảo trì và anh ta sẵn sàng hợp tác.

Tại căn hầm đặt máy điện phân, nhóm biệt kích đặt mìn có đồng hồ hẹn giờ để họ đủ thời gian rút lui nhưng trước khi rút, họ sẽ cố ý bỏ lại 1 khẩu súng tiểu liên Thompson, mặc định rằng cuộc tấn công phá hủy là do người Anh thực hiện chứ không phải do du kích địa phương, nhằm tránh quân Đức trả thù thường dân Na Uy vô tội.

Diễn tiến vụ phá hủy

10 giờ 30 phút đêm 27, nhóm phá hủy nhà máy Vermork gồm 8 biệt kích SOE và 6 biệt kích Na Uy bắt đầu xuất phát, số còn lại làm nhiệm vụ dự phòng. 0 giờ 30 phút ngày 28, họ tiếp cận cánh cổng bằng sắt của nhà máy sau khi đã bố trí 4 biệt kích Na Uy làm nhiệm vụ chặn hậu. Bằng chiếc kìm cộng lực, biệt kích Ronneberg nhanh chóng cắt đứt ổ khóa rồi chỉ mất 20 giây, tất cả đã có mặt trong sân.

Theo lệnh của thiếu tá Jens-Anton Poulsson, cả 8 biệt kích SOE sẽ cùng ông xuống tầng hầm nằm sâu dưới đất 10,3m, nơi đặt các máy điện phân còn 2 biệt kích Na Uy ở lại để đánh trả lính Đức nếu bị phát hiện. Nỗi lo của tất cả mọi người lúc ấy là mặt trăng đột nhiên hiện ra rực rỡ và điều này sẽ giúp lính Đức dễ dàng nhìn thấy họ khi họ rút lui.

Đúng như lời điệp viên nằm vùng Skinnarland nói, bên trong nhà máy hoàn toàn vắng lặng. Tại hành lang dẫn đến khu vực có in dòng chữ trên tường bằng tiếng Đức: “Không phận sự cấm vào”, thiếu tá Jens-Anton Poulsson chia nhóm SOE làm hai, mỗi nhóm mang theo 1 balô thuốc nổ, đi thẳng đến cánh cửa dẫn xuống tầng hầm nhưng nó đã bị khóa.

Theo kế hoạch, điệp viên Na Uy nằm vùng trong nhà máy là Skinnarland sẽ phải mở khóa từ trước nhưng oái ăm thay, hôm ấy ông này lại bị sốt cao, không đi làm! Thiếu tá Jens-Anton Poulsson kể lại: “Trước đó, chúng tôi đã được phổ biến rằng cánh cửa dẫn xuống hầm đặt máy điện phân là một dạng cửa cuốn, điều khiển bằng dây cáp. Vì vậy cách chọn lựa duy nhất là xuống bằng đường ống đặt cáp”.

Lúc này, cả nhóm biệt kích đều ý thức rằng thời gian đối với họ rất quan trọng nên Ronneberg và Kayser nhanh chóng trèo lên đỉnh trục rồi trườn người vào lỗ trục. Khéo léo lách qua những bó dây cáp, cả hai xuống đến tầng hầm.  Johansen, nhân viên trực kỹ thuật người Na Uy há hốc miệng khi thấy trước mặt là hai người trong bộ quân phục Anh quốc nhưng anh ta vẫn dẫn họ đến 2 máy điện phân đang hoạt động.

Ngay lập tức Ronneberg mở ba lô, lần lượt đặt những thỏi thuốc nổ hình cây xúc xích vào tua-bin của máy điện phân rồi bấm đồng hồ hẹn giờ, đúng như những gì anh đã được thực tập trên mô hình khi còn ở London…    

Vũ Cao (theo The Atomic War)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.