Bí mật Cục Tình báo Quốc gia Hàn Quốc

Cơ quan tình báo trung ương Hàn Quốc (KCIA) được sáng lập vào năm 1961, và đến năm 1981 thì cơ quan này đổi sang tên mới thành Cơ quan lập kế hoạch an ninh quốc gia (ANSP). Năm 1994, NSP đã sửa đổi luật sau thỏa thuận giữa các đảng cầm quyền và đảng đối lập ở Hàn Quốc, tiến tới thiết lập “Ủy ban thông tin” ngay trong Quốc hội nhằm tạo nền tảng cho sự trung lập về chính trị. NSP cũng phát động nhiều hoạt động chống tội phạm và khủng bố quốc tế nhằm bảo vệ cho người dân Hàn Quốc thoát khỏi tội phạm quốc tế có tổ chức.

Hồ sơ của KCIA xứ kim chi

Cơ quan tình báo trung ương Hàn Quốc (KCIA) được thành lập buổi ban đầu vào ngày 19 tháng 6 năm 1961 dưới sự ủy lạo của Hội đồng tối cao về tái thiết quốc gia (SCNR) ngay sau khi diễn ra cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Nhiệm vụ chính của KCIA là “giám sát và điều phối các hoạt động tình báo nội địa và quốc tế cùng điều tra tội phạm bởi tất cả các cơ quan tình báo chính phủ, bao gồm cả quân đội”. 

Nhiệm vụ của KCIA tương đương với Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) và Cục điều tra liên bang (FBI). Lãnh đạo đầu tiên của KCIA là ông Kim Chong-p'il. Ông Kim (cũng là lãnh đạo của Quân đoàn phản gián quân đội, ACC) đã xây dựng một tổ chức gồm 3.000 thành viên – trở thành cơ quan điều tra và tình báo quyền lực nhất của nền cộng hòa. KCIA đã duy trì một thể chế phức tạp với nhiều cơ quan liên đới với các thực thể chính phủ có quyền ra quyết định quan trọng.

KCIA có quyền phủ quyết đối với những thông tin liên quan đến an ninh quốc gia chiếu theo điều lệ của đạo Luật liên quan bảo vệ các bí mật quân sự (ACPMS) và quan trọng hơn là KCIA có quyền phủ quyết đối với các cơ quan khác thông qua các chức năng giám sát và điều phối của nó. Quyền lực không giới hạn của KCIA trong điều tra và bắt giữ bất kỳ người nào bị cáo buộc có hành vi chống đối đã làm giới hạn nghiêm trọng quyền bất đồng chính kiến hoặc chỉ trích chế độ.

Ông Chun Doo Hwan, người từng có thời gian làm Giám đốc KCIA, chịu trách nhiệm gây ra nhiều vụ bắt bớ chính trị và đàn áp sinh viên. Ảnh nguồn: Wiki Commons.
Ông Chun Doo Hwan, người từng có thời gian làm Giám đốc KCIA, chịu trách nhiệm gây ra nhiều vụ bắt bớ chính trị và đàn áp sinh viên. Ảnh nguồn: Wiki Commons.

Việc thường xuyên thẩm vấn, giam giữ hay thậm chí truy tố những người bất đồng chính kiến, các cá nhân đối lập, và lực lượng phóng viên đã gây nguy hại nghiêm trọng đến quyền tự do căn bản và tạo ra bầu không khí đàn áp chính trị. Dưới thời cầm quyền của ông Park Chung-Hee, việc thiếu tiến bộ trong các quyền tự do dân sự đã tiếp tục được biện minh khi đề cập đến mối đe dọa từ bên ngoài. Thậm chí khi đối mặt với quyền lực của KCIA thì ảnh hưởng của Bộ Nội vụ và cảnh sát cũng bị suy giảm.

Chính phủ Hàn Quốc thường sử dụng lệnh thiết quân luật hoặc lệnh đồn trú để đối phó với bất ổn chính trị. Từ năm 1961 đến năm 1979, thiết quân lệnh đã được ban ra 8 lần. Minh chứng là vào ngày 15 tháng 10 năm 1971, lệnh đồn trú đã làm kích hoạt những cuộc biểu tình của sinh viên, kết quả là 2000 sinh viên bị bắt giữ. 

Một năm sau đó, ngày 17 tháng 10 năm 1972, lãnh đạo Park Chung-Hee ra tuyên bố thiết quân luật, giải tán Quốc hội và quản thúc nhiều thủ lĩnh phe đối lập. Đến tháng 11 năm 1972, Hiến pháp Yusin (Yusin nghĩa là Hồi sinh) đã được ban hành nhằm tăng cường quyền lực cho Tổng thống, nó được phê chuẩn thông qua cuộc trưng cầu dân ý dưới lệnh thiết quân luật. Ngay sau khi Hiến pháp Yusin được thiết lập, chính phủ đã trở nên độc tài hơn khi nó được điều chỉnh bởi các sắc lệnh khẩn cấp của Tổng thống: 9 sắc lệnh khẩn cấp đã được ban hành từ tháng Giêng năm 1974 đến tháng 5 năm 1975. 

Chế độ ông Park đã củng cố đạo Luật an ninh quốc gia vào năm 1960 và điền thêm Luật chống cộng sản. Theo hai đạo luật này và Luật khẩn cấp số 9 tuyên bố rằng bất kỳ hành động chống chính phủ nào bao gồm các bài phát biểu và bài viết chỉ trích đều bị hiểu là hành vi phạm tội “có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản hoặc thành viên cộng sản” hoặc “trợ giúp cho các tổ chức chống chính phủ”. 

Do đó mà các hành vi đe dọa chính trị, bắt bớ tùy tiện, giam giữ phòng ngừa, và ngược dãi tù nhân không phải là hiếm. Sự phản đối chính phủ ông Park đã gia tăng chí ít là khi nền kinh tế Hàn Quốc bị sút kém vào năm 1979. Tình trạng bất ổn lao động và sự phản ứng ngay trong chính phủ Hàn Quốc đã làm kích động sự từ chức hàng loạt của các thành viên đối lập trong Quốc hội, cùng các cuộc biểu tình của sinh viên và công nhân ở Pusan, Masan và Ch'angwon, chính phủ tuyên bố thiết quân luật ở những thành phố này.

Trước bầu không khí sặc mùi khủng bố cùng sự bất mãn với khả năng điều hành đất nước của Tổng thống Park, vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, thủ lĩnh KCIA là Kim Chae-gyu đã cho người ám toán Park Chung-Hee và người đứng đầu Lực lượng an ninh Tổng thống, Ch'a Chi-ch'ol, nhưng sau đó chính Chae-gyu đã bị bắt. 

Tình trạng thiết quân luật khẩn cấp ngay tức khắc được ban bố để đối phó với cuộc khủng hoảng, người đứng đầu Bộ chỉ huy an ninh quốc phòng, Thiếu tướng Chun Doo Hwan trở thành tân Tổng thống Hàn Quốc. Sau vụ ám sát Tổng thống Park Chung-Hee vào năm 1979 bởi giám đốc KCIA thì cơ quan này đã bị thanh trừng, và tạm thời mất nhiều ghế quyền lực trong bộ máy. Tổng thống Chun Doo Hwan cũng tạm thời giữ quyền giám đốc điều hành của KCIA từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1980 nhằm mở rộng quyền lực ngoài quân đội của mình.

ANSP – Cơ quan thu thập tình báo mật

Nhưng ngay cả sau khi xảy ra vụ mưu sát Tổng thống Park, chính phủ mới vẫn không dỡ bỏ lệnh thiết quân luật. Sinh viên phát động biểu tình và khi đó người đứng đầu quân đội Hàn Quốc là Thượng tướng Chun Doo Hwan (kiêm luôn chức vụ Tổng thống và giám đốc KCIA) đã ban lệnh cấm các hoạt động quân sự, bắt giữ nhiều chính trị gia cầm quyền và đối lập. 

Ở Kwangju, lệnh thiết quân luật được mở rộng và việc bắt giữ Kim Dae Jung đã làm kích hoạt biểu tình dữ dội. Suốt 9 ngày, chính phủ Hàn vẫn không làm chủ được tình hình ở Kwangju sau khi 200 người chết. Mặt khác, sau khi đổi tên thành Cơ quan lập kế hoạch an ninh quốc gia (ANSP) thì cơ quan này cũng như KCIA chịu trách nhiệm cấp độ nội các trước Tổng thống. Giám đốc ANSP tiếp tục được trực tiếp tiếp cận Tổng thống. Tới tháng 3 năm 1981, ANSP trở thành cơ quan chuyên trách xử lý mọi thông tin tình báo.

Mọi cơ quan tình báo khác ở Hàn Quốc cùng có trách nhiệm phối hợp với ANSP để xử lý tình báo. Cuối năm 1981, luật được thông qua đã tái khẳng định chức vụ, quyền hạn của ANSP bao gồm thu thập, biên soạn và phân phối thông tin nội địa và quốc tế liên quan đến an ninh công chống lại thành viên cộng sản và các âm mưu hạ bệ chính phủ. 

Việc duy trì an toàn công cộng với các tài liệu, vật liệu, cơ sở… được xác định là các bí mật nhà nước và là mục tiêu của ANSP, cũng như đảm trách điều tra tội phạm chống đối, ngoại xâm, phản loạn, đồng lõa và tiếp tay cho kẻ thù, hé lộ các bí mật quân sự, và những tội danh được quy định trong Luật liên quan bảo vệ các bí mật quân sự và Luật an ninh quốc gia. Các nhân viên tình báo của ANSP sẽ thực hiện điều tra tội phạm, giám sát công tác thu thập tình báo, cùng việc biên soạn và phân phối tin tình báo cho các cơ quan khác nhằm duy trì an toàn công cộng. Đến năm 1983, ANSP đã trở nên nổi tiếng là tổ chức tình báo ưu việt ở Hàn Quốc và quốc tế.

Điều nên biết rằng cả ANSP và DSC (Bộ chỉ huy An ninh quốc phòng) không chỉ thu thập tình báo nội địa mà còn tiếp tục hoạt động về “chính trị tình báo”. 

Tổng hành dinh Cơ quan Tình báo trung ương Hàn Quốc (KCIA, còn có các tên khác là ANSP, NIS). Ảnh nguồn: AsiaOne
Tổng hành dinh Cơ quan Tình báo trung ương Hàn Quốc (KCIA, còn có các tên khác là ANSP, NIS). Ảnh nguồn: AsiaOne

Mặt khác, Luật liên quan đến hội họp và biểu tình (ACAD) đã giới hạn sự chống đối chính trị bằng cách cấm những cuộc hội họp có khả năng “phá hoại” trật tự công. Cảnh sát bắt buộc nâng cao thông báo đối với các cuộc biểu tình. Những cá nhân vi phạm bị phạt tù cao nhất là 7 năm. Luật ACAD thường xuyên áp dụng để kiểm soát hoạt động chính trị trong nền Đệ ngũ cộng hòa, và chế độ của Chun Doo Hwan chịu trách nhiệm cho hơn 84% trong số 6.701 cuộc điều tra chiếu theo ACAD. 

Sự hiện diện an ninh có mặt ở các trung tâm thành phố, gần các ký túc xá đại học, văn phòng chính phủ và đảng, các trung tâm truyền thông. Công dân, đặc biệt là sinh viên và thanh niên trẻ thường hay bị yêu cầu ngừng lại, và thẩm vấn. Một lượng lớn cảnh sát chiến đấu (CP) đã tiến hành giam giữ hàng ngàn người biểu tình trong thời gian ngắn, và truy tố những người cầm đầu.

Sau năm 1985, luật an ninh quốc gia (NSA) đã tăng cường được sử dụng để đàn áp bất đồng nội địa. Việc hỏi cung của các cơ quan tình báo không chỉ bao gồm các hành vi ngược đãi tâm lý và thể chất mà còn là tra tấn theo đúng nghĩa đen. Đỉnh điểm của vụ việc là vào năm 1987, việc tra tấn và làm chết sinh viên Pak Chong-ch'ol của Đại học quốc gia Seoul đã kích hoạt sự chống đối công khai đối với các chiến thuật đàn áp hà khắc của chính phủ. 

Các cơ quan tình báo không chỉ giam giữ những người bị cáo buộc bất đồng chính kiến với các luật của chính phủ, mà còn áp dụng nhiều hình thức giam giữ khác nhau, gồm: quản thúc tại gia với những chính trị gia đối lập. Nhiều nhà chính trị, lãnh đạo tôn giáo và các đối tượng bất đồng chính kiến khác bị các đặc vụ chính phủ theo dõi. Còn các thành phần đối lập trong Quốc hội đã tố ngược lại họ bị nghe lén điện thoại và đánh chặn thông tin liên lạc.

Hoạt động nghe lén vô tuyến từ miền Bắc vào năm 1990 bị cho là bất hợp pháp. Tương tự như vậy, sách hay các văn hóa phẩm khác có nội dung lật đổ, thân cộng sản hay ủng hộ chính quyền miền Bắc đều bị cho là phạm pháp; các tác giả, nhà xuất bản, nhà in và nhà phân phối các tài liệu này đều là đối tượng để bắt giữ. Việc cảnh sát sử dụng hơi cay (Năm 1987, cảnh sát đã ném 260.000 quả đạn hơi cay vào đám đông nhằm giải tán các cuộc biểu tình) ngày càng bị chỉ trích và đến năm 1989 thì việc sử dụng hơi cay đã bị hạn chế theo luật. 

Năm 1990, cấu trúc tổ chức của ANSP đã được chính quyền Seoul phân loại. Bất chấp những biến cố chính trị và xã hội trong thời Đệ lục cộng hòa, ANSP vẫn xem việc hỗ trợ và duy trì quyền lực của Tổng thống là một trong những vai trò quan trọng nhất. Tuy vậy cũng trong thời kỳ này, quyền lực nội địa của ANSP đã bị giới hạn.

Những cải tổ mạnh mẽ

Theo đó, ANSP, DSC, Văn phòng tổng công tố (OPG), Cảnh sát quốc gia Hàn Quốc (KNP) và Bộ Tư pháp đều cử đặc vụ của họ hoạt động trong quốc hội để thu thập thông tin về hoạt động của các chính trị gia. Nhưng đến tháng 5 năm 1988, các điệp viên ANSP cùng với điệp viên của các cơ quan tình báo khác đã rút khỏi tòa nhà quốc hội. 

Ngân sách của ANSP không công bố cho công luận, và nó cũng úp mở ngân sách tại quốc hội trong các phiên họp kín. Và đến tháng 7 năm 1989, lần đầu tiên sau 18 năm trước sức ép của các đảng đối lập và công luận, ANSP đã bị đưa vào diện thanh tra và kiểm toán bởi quốc hội. Đến năm 1988, ANSP đã loại bỏ các đặc vụ khỏi Tòa hình sự Seoul và Tòa tối cao. Tuy nhiên vào năm 1990, ANSP đã tham gia sâu vào chính trị trong nước, cũng như không sẵn sàng từ bỏ quyền lực nhằm ngăn chặn các ý tưởng cấp tiến của Hàn Quốc.

Bất chấp một thỏa thuận có từ tháng 9 năm 1989 bởi các nhà hoạch định chính sách từ đảng cầm quyền và đảng đối lập nhằm tước bỏ quyền lực của ANSP đối với công tác điều tra hoạt động liên quan đến miền Bắc (một tội ác chiếu theo Luật an ninh quốc gia, NSA), ANSP không hề hấn gì và vẫn tiếp tục can thiệp những nỗ lực hất cẳng chính phủ. ANSP tiếp tục thẩm vấn các sinh viên cấp tiến và lãnh tụ bất đồng chính kiến mà không cần giải thích. 

Đáp lại những cáo buộc chỉ trích về vi phạm nhân quyền, ANSP đã thành lập một “văn phòng quan sát” nhằm giám sát các cuộc điều tra nội địa và ngăn ngừa các đặc vụ lạm dụng quyền lực của họ khi thẩm vấn các đối tượng hoài nghi. Ngoài khía cạnh an ninh nội địa gây tranh cãi, ANSP cũng nổi tiếng về công tác thu thập và phân tích tin tình báo nước ngoài nhằm điều tra các tội ngoại kiều Hàn Quốc liên quan đến lật đổ cùng những bí mật quân sự.

Danh tiếng hoạt động phản gián của ANSP cũng thật sự xuất sắc. Cơ quan này chuyên theo dõi du khách nhằm ngăn ngừa các hoạt động gián điệp công nghiệp và quân sự. Tiếp sau những thành công ngoại giao hồi cuối thập niên 1980 – việc ANSP thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô và Đông Âu, cũng như tăng cường các cuộc tiếp xúc không chính thức với Trung Quốc, Mông Cổ và Việt Nam – đã cho thấy sứ mạng này ngày càng trở nên quan trọng hơn lúc nào hết. Năm 1995, khi di dời sang một tòa nhà tình báo mới được trang bị các thiết bị tối tân ở Naegok-dong (Nam Seoul), NSP đã đặt tham vọng trở thành cơ quan tình báo tiên tiến trong thế kỷ 21. Đến ngày 22 tháng Giêng năm 1999, ANSP một lần nữa lại đổi tên thành Cục tình báo quốc gia (NIS).

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.