Bi kịch của những người phiên dịch cho Quân đội Mỹ

Năm 2009, Sakhidad Afghan bắt đầu làm phiên dịch viên cho quân đội Mỹ và thường xuyên đi theo binh sĩ nước này trong những trận chiến ở Afghanistan. Sakhidad lâm vào cảnh thất nghiệp vào năm 2014, thời điểm khi quân đội Mỹ bắt đầu rút quân. Không những thế, anh còn thỉnh thoảng nhận được những cuộc gọi điện thoại nặc danh đe dọa giết chết…

Đầu năm 2015, trong khi đang chờ xuất cảnh sang Mỹ thì Sakhidad bị sát hại. Bức ảnh chụp Sakhidad đăng trên trang mạng xã hội Facebook cho thấy anh bị tra tấn đến chết và xác nằm bên vệ đường cùng với mảnh giấy cảnh cáo của Taliban gửi đến những người phiên dịch khác.

Bị săn đuổi và giết chết bất kỳ lúc nào

Năm 2014, tổ chức phi lợi nhuận Dự án Quốc tế Hỗ trợ người tị nạn (IRAP) đặt trụ sở tại New York (Mỹ) ước tính cứ 36 tiếng trôi qua lại có 1 người phiên dịch Afghanistan bị giết chết. Mỗi năm có đến hàng ngàn phiên dịch viên người Afghanistan bị Taliban đe dọa tước đi mạng sống trong khi họ đang mòn mỏi trông chờ được cấp thị thực vào Mỹ. Theo Arif Rahmani, thành viên Nghị viện Afghanistan, Taliban theo dõi Sakhidad bởi vì anh có thời gian khá dài làm việc cho quân đội Mỹ.

Rahmani viết trên Facebook: "Theo thông tin từ Quân đội Quốc gia Afghanistan (ANA), Taliban bắt cóc Sakhidad từ một khu chợ ở Farah. Bọn chúng tra tấn dã man Sakhidad trên một chiếc xe tải trước khi giết chết anh. Sakhidad mất việc làm sau khi căn cứ quân đội Mỹ ở Helmand đóng cửa vào năm 2014.

ANA phát hiện thi thể Sakhidad vào đầu tháng 3-2015 ở khu vực sông Farah nằm giữa Helmand và Herat. Ngày 9-7-2014, Sakhidad gửi email cho một người bạn trong quân đội Mỹ: "Tôi rất lo sợ trước tình hình hiện nay. Nếu đến được Mỹ, tôi tin mình sẽ được an toàn. Thảm họa đang bao trùm cuộc sống của chúng tôi ở Afghanistan".

Sakhidad Afghan (trái) khi còn sống.
Sakhidad Afghan (trái) khi còn sống.

Aaron MacLean, chủ bút tờ Washington Free Beacon và từng làm việc với Sakhidad ở Afghanistan, nhận xét: "Sakhidad là thanh niên tốt, luôn hoàn thành công việc của mình. Anh dũng cảm như bất cứ lính thủy đánh bộ nào của Mỹ trong khói lửa chiến tranh ở Marjah". Thông tin về cái chết của Sakhidad làm run sợ cả cộng đồng phiên dịch viên ở Afghanistan. Một phiên dịch viên giấu tên đang nằm trong danh sách dài chờ cấp thị thực vào Mỹ từ năm 2011 tỏ vẻ lo lắng: "Tôi tin là Taliban cũng đang săn đuổi tôi và tôi sẽ bị giết chết vào một ngày nào đó".

Số phận của đội ngũ phiên dịch viên bị quân đội Mỹ để lại đằng  sau gây băn khoăn cho Erin Trieb - nữ nhà báo ảnh người Mỹ hoạt động ở Afghanistan từ năm 2009 đến 2011. Trong chuyến đi đến thủ đô Kabul của Afghanistan hồi năm 2015, Erin Trieb gặp một người đàn ông tên là Mashal từng làm phiên dịch cho quân đội Mỹ trong 9 năm và hiện đang chờ được SIV phê chuẩn.

Erin Trieb nói: "Mashal cho biết anh không thể sống chung với gia đình gồm vợ và 3 cô con gái của mình do lo sợ cho sự an toàn của họ. Anh cũng cho các cô con gái nghỉ học vì lý do như thế. Công việc phiên dịch  trong quân đội Mỹ là bí mật lớn nhất trong cuộc đời những người như Mashal. Họ không dám nói sự thật với bạn bè, người thân hay bất cứ ai khác. Họ luôn sống trong thấp thỏm lo âu và khi bước ra đường, họ không ngừng ngoái nhìn lại sau lưng mình".

Những bức thư đe dọa từ Taliban là yêu cầu của SIV.
Những bức thư đe dọa từ Taliban là yêu cầu của SIV.

Tương tự với tình trạng như vậy, hàng nghìn người Iraq từng làm phiên dịch cho quân đội Mỹ đang trong tình cảnh thường xuyên bị khủng bố tinh thần bởi những động thái đe dọa từ chính đồng bào họ. Tariq, 27 tuổi, cho hay, khi còn làm phiên dịch cho quân đội Mỹ, anh được sống trong căn cứ an toàn, tránh được vòng nguy hiểm của những kẻ tìm giết những người làm việc cho quân đội Mỹ.

Nhưng ngay khi đơn vị quân đội anh phục vụ rút khỏi Iraq vào ngày 13-10-2011, anh được "hộ tống" ra khỏi căn cứ. Chính phủ Mỹ đã cam kết với Tariq cũng như hàng ngàn phiên dịch viên Iraq khác rằng, họ sẽ là những người đầu tiên được cấp visa đặc biệt sang Mỹ.

Nhưng với tốc độ ì ạch như hiện nay của các thủ tục, Tariq gần như mất hy vọng. Thủ tục cấp visa, như thông thường đã luôn chậm chạp và rắc rối, nay lại càng ì ạch hơn từ sau khi hai người tị nạn của Iraq bị bắt tại Kentucky hồi tháng 5-2011. Họ bị buộc tội khủng bố do liên quan đến hoạt động hậu thuẫn cho Al-Qaeda. Bản thân Tariq được Mỹ liệt vào danh sách những người được "cấp visa xuất cảnh đặc biệt" và sẽ là một trong 20.000 nghìn phiên dịch người Iraq được sang Mỹ.

Qasaim, 42 tuổi, từng 7 năm làm phiên dịch cho quân đội Mỹ, nghỉ việc hồi tháng 5 khi cô con gái 15 tuổi bị bắt cóc. Khi Qasaim liên lạc với Đại sứ quán Mỹ về đơn xin cấp visa cho cả gia đình, anh bị nhân viên yêu cầu mang con gái đến phỏng vấn.

Anh nhớ lại: "Tôi đã nói sao các ngài có thể hỏi tôi như thế? Tôi còn không biết con gái mình đang ở đâu".  Qasaim sợ là con gái anh đã chết hoặc đã bị đưa đi khỏi Iraq. Anh kể lại rằng người bắt cóc đã mấy lần gọi điện thoại và nói: "Đừng tìm con gái làm gì. Mày sẽ chẳng bao giờ tìm được đâu".

Anh cho biết cả nhà anh, gồm cả vợ và bảy đứa con, đều đã nhiều lần bị đe dọa. Hai người anh em của anh từng làm việc cho quân đội Mỹ cũng đang chờ cấp visa. Cuối cùng quân đội Mỹ cũng đồng ý không phỏng vấn cô con gái mất tích và không ghi tên cô bé vào danh sách xin visa.

Tuy nhiên các nhân viên tư vấn cũng không cho anh biết lúc nào hay liệu gia đình anh có được nhập cư sang Mỹ hay không. "Tất cả những gì đại sứ quán có thể nói với tôi, đó là chúng tôi phải chờ", anh nói thêm.

Đòi hỏi nhiêu khê trong một chương trình nhân đạo

Năm 2009, Quốc hội Mỹ thông qua chương trình Thị thực Đặc biệt cho người tị nạn (SIV), khoảng 9.200 người Afghanistan đã nhận được SIV cùng với 17.000 thân nhân của họ. Nói rộng ra,  SIV là một chương trình đặc biệt của chính phủ Mỹ dành cho các phiên dịch viên người Afghanistan và Iraq từng làm việc cho quân đội Mỹ nhằm bảo vệ cho những người phiên dịch này cũng như gia đình họ bằng cách đưa họ nhập cư vào Mỹ. Họ là những người có một vai trò quan trọng đối với quân đội Mỹ.

Hình ảnh cái chết của Sakhidad Afghan đăng trên Facebook.
Hình ảnh cái chết của Sakhidad Afghan đăng trên Facebook.

Chương trình Hỗ trợ người tị nạn Iraq ước tính có khoảng 50.000 người Iraq và Afghanistan đã làm phiên dịch viên trong suốt thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, làm công việc này cũng khiến họ phải trả một cái giá rất đắt: bị Taliban và nhiều tổ chức khủng bố khác xem là "kẻ phản bội", khiến cho bản thân những người này và gia đình họ luôn ở trong tình trạng bị đe dọa.

Theo luật định, một đơn xin cấp thị thực sẽ được giải quyết trong vòng 9 tháng; song trên thực tế, thủ tục thường kéo dài nhiều năm.

Hiện nay tại Afghanistan còn khoảng 10.000 người phiên dịch Afghanistan đang sống từng ngày trong nguy hiểm- một thực tế đáng lo ngại mà tướng John W. Nicholson cảnh báo nó có thể "mang lại lợi thế cho bộ máy tuyên truyền của kẻ thù chúng ta". Trong khi đó, năm nay Quốc hội Mỹ vẫn chưa quyết định làm mới hay mở rộng chương trình SIV cho Afghanistan vì nhiều lý do.

Ví dụ như các nhà lập pháp Mỹ còn đang tranh luận về vấn đề liên quan đến tài chính - ước khoảng 446 triệu USD trong vòng 10 năm cho thêm 4.000 thị thực. Ngoài ra, một số người còn tỏ vẻ lo ngại về số lượng lớn người nhập cư vào Mỹ, đồng thời lập luận rằng các phần tử khủng bố rất có thể giả dạng làm người phiên dịch để vào được nước Mỹ.

Những người tham gia chương trình SIV phải trải qua không dưới 14 bước - bao gồm cùng cấp hồ sơ về thông tin cá nhân, xét nghiệm y khoa, kiểm tra lý lịch cũng như thử thách với máy phát hiện nói dối v.v…

Thêm vào đó là bằng chứng cho thấy người xin cấp thị thực đang bị đe dọa tính mạng tại Afghanistan - một yêu cầu mà các nhóm bảo vệ nhân quyền cho rằng khó thể chứng minh được! Những người ủng hộ chương trình SIV đánh giá, nhiều phiên dịch viên người Afghanistan khó có thể đáp ứng được một số yêu cầu từ chính quyền Mỹ trên thực tế. Ví dụ như, họ không thể đòi hỏi sự chứng minh từ những người giám hộ họ trong quân đội Mỹ đã về quê nhà từ lâu hay từ những nhà thầu quân đội đã chết.

Để có được thị thực trong chương trình SIV, trước hết, những người xin cấp thị thực phải nộp hồ sơ đến Cơ quan Quốc tịch và Nhập cư Mỹ (USCIS) tại Bộ An ninh Nội địa. Hồ sơ này yêu cầu phải có những thông tin cơ bản, giấy tờ liên quan đến hộ tịch, bằng cấp với bản dịch thuật sang tiếng Anh được chấp thuận, giấy chứng nhận đã từng làm việc cho Mỹ, chứng nhận kiểm tra lý lịch và thư giới thiệu.

Nếu tất cả được chấp nhận, người phiên dịch sẽ tiếp tục được đăng ký xin thị thực. Bước này yêu cầu nộp đầy đủ những loại giấy tờ đã nêu ở trên cùng với thông tin cá nhân của từng thành viên trong gia đình.

Cả quá trình này thường mất đến vài năm. Sau khi hoàn tất, người phiên dịch viên sẽ tiếp tục phải có một cuộc phỏng vấn với sứ quán Mỹ. Một vài trường hợp đã không được chấp thuận vì không có chứng nhận y tế ở bước 2, yêu cầu người phiên dịch phải trả 500 USD cho mỗi thành viên trong gia đình tại một phòng khám duy nhất được ủy quyền tại Kabul. Vì chứng nhận y tế luôn có thời hạn hiệu lực, nếu nó hết hạn trước khi thị thực được cấp, những người phiên dịch phải xin cấp lại, đồng nghĩa với việc họ lại mất thêm 500 USD cho mỗi thành viên trong gia đình.

Trong một nỗ lực giải quyết tình trạng này, Bộ Ngoại giao Mỹ đã cấp thị thực tạm thời có hiệu lực trong thời hạn của chứng nhận y tế, ngay cả khi nếu đó chỉ là vài ngày. Vậy nên những người phiên dịch cùng với gia đình của họ phải chuẩn bị và thu xếp đồ đạc để rời khỏi đất nước mình trong thời gian nhanh nhất có thể từ khi nhận được thông báo.

Theo số liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong năm tài khóa 2011, chỉ có 3 người từng làm phiên dịch cho quân đội Mỹ người Afghanistan được cấp thị thực.

Năm 2012, con số đó tăng lên thành 63. Sự thiếu hiệu quả này đã khiến cựu Ngoại trưởng John Kerry xem xét lại toàn bộ chương trình, sau đó số thị thực được cấp đã tăng một cách đáng kể, lên con số 3.441 trong năm tài khóa 2014. Thế nhưng, số người gặp khó khăn trong việc xin cấp thị thực, tới tháng 7-2014 là 6.000 phiên dịch viên Afghanistan, vẫn còn đang mắc kẹt ở nhiều giai đoạn khác nhau trong suốt một quá trình lâu dài và phức tạp.

Một lý do khiến các công chức vẫn còn thận trọng trong việc cấp thị thực cho người Afghanistan đó là họ không muốn bị liên quan đến việc cho phép những "hiểm họa an ninh tiềm tàng" vào trong đất Mỹ.

Tuy nhiên, nhiều người lính từng tham chiến cùng với những phiên dịch viên không đồng ý với quan điểm này. Nhiều quân nhân và sĩ quan Mỹ đã đấu tranh cho việc cải thiện tiến trình cấp thị thực hiệu quả hơn, trong số đó có anh Matt Zeller, người từng tiết lộ rằng trong thời gian anh chiến đấu ở Afghanistan, phiến quân Taliban đã gọi và đưa ra nhiều thông tin giả tạo cho các căn cứ quân sự Mỹ ở đây, khiến cho các phiên dịch viên bị sa thải.

Diên San - Quang Hiếu (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.