Bảo Ninh đi qua nỗi buồn chiến tranh

Tác phẩm đầu tiên tôi đọc của Bảo Ninh không phải là “Nỗi buồn chiến tranh” mà là một truyện ngắn in trên Báo Sinh viên số tết: “Bội phản”. Ấn tượng lớn từ thời sinh viên khiến cho tôi chọn in lại truyện đó khi làm biên tập cho một tờ báo dù nó có thể không phải là truyện ngắn hay nhất của Bảo Ninh.

Tôi muốn nói đến truyện ngắn của Bảo Ninh trước hết bởi cái bóng của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” quá lớn mà người ta đôi khi không để ý rằng Bảo Ninh là cây truyện ngắn rất tinh tế. 

Quay lại ấn tượng thời sinh viên khi đọc  “Bội phản”, tôi đã hết sức ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì đọc được một cái truyện hay, buồn tê tái về thời bao cấp và tự hỏi sao Báo Sinh viên lại dám in một truyện cỡ đó. Một truyện rất ly kỳ về mối tình tay ba liên quan đến những vụ “bắt đôi” yêu nhau trong công viên Bách Thảo và liên quan tới con phố Tông Đản ở Hà Nội. Nếu tôi không nhầm thì Báo Sinh viên số tết năm đó cháy hàng vì đăng truyện ngắn của Bảo Ninh.

Đúng là những gì neo vào ta thời non trẻ rất dễ gây ấn tượng mạnh. Sau này có người bảo tôi, “Khắc dấu mạn thuyền” mới là truyện hay nhất của Bảo Ninh. Tôi đọc, thấy nó hay nhưng ấn tượng không mạnh như thời xưa nữa vì có lẽ lúc ấy tôi đã trưởng thành về sự đọc.

“Bội phản” khi được đọc lại cũng không còn quá ám ảnh như lúc trước nhưng vẫn là vết thương tấy phát của thời khốn khó mà những người như Bảo Ninh đã trải qua rất nhiều và tôi cũng được biết chút ít nên còn vương vấn nhớ thương. Nói như thế để thấy rằng chỉ cần vài truyện ngắn, Bảo Ninh đã gieo vào người đọc một dấu ấn rất đáng kể dù nhà văn quê gốc Quảng Bình viết không nhiều và đâu chỉ có “Nỗi buồn chiến tranh”.

Văn của Bảo Ninh đẹp và thơ, tôi cảm giác nó thậm chí thơ quá ở những chỗ rất cần gay cấn, dữ dội. Những khoảng kí ức buồn man mác luôn là thế mạnh của nhà văn, một kiểu văn trau chuốt giàu cảm xúc và tâm trạng.

Rồi tôi gặp Bảo Ninh lần đầu ở một quán ăn trên phố Lý Nam Đế, chỗ ấy gần Tạp chí Văn nghệ quân đội nên các anh em văn nghệ sĩ Hà Nội hay tụ họp. Tôi quan sát tác giả “Nỗi buồn chiến tranh” xem ông sắc sảo cỡ nào. Nhưng, Bảo Ninh là người ít nói, thường ngồi trầm ngâm, thỉnh thoảng mới lên tiếng và không tỏ ra một người sắc nét hay mượt mà như trong tác phẩm của mình. Khi nói chuyện về văn chương, Bảo Ninh cũng hầu như ít tranh luận, tư lự hoặc thỉnh thoảng mới bật ra một câu đùa vui.

Nhưng, đấy có lẽ không phải là sở trường hoặc sự quan tâm lớn của ông. Một lần tôi ngồi xe cùng Bảo Ninh và vài bạn văn lên trại sáng tác Tam Đảo thì mới biết ông sục sôi cỡ nào. Khi nói về chiến tranh và những người lính, Bảo Ninh nói rất hăng say và quyết liệt. Ông quyết bảo vệ những đồng đội và lí tưởng chiến đấu của mình. Nhà văn giận dữ phản bác những ý kiến trái chiều. Ông nói rất hăng và không ngại văng tục.

Đến lúc đó tôi mới thấy Bảo Ninh là người lính thực sự. Những hành động của Bảo Ninh một lần nữa khiến tôi rất ngạc nhiên vì đã có nhiều ý kiến trái chiều về “Nỗi buồn chiến tranh” và chính tôi đã từng nghĩ về Bảo Ninh có phần sai lệch, lúc ấy tôi mới không còn nghi ngờ về phẩm chất lính chiến của ông...

Thỉnh thoảng tôi gọi điện cho ông, mời cộng tác với tờ báo tôi làm biên tập. Tôi lại bất ngờ khi Bảo Ninh xử rất “nhũn” với hậu sinh, ông nhỏ nhẹ, dịu dàng, thậm chí bài viết của ông chậm đăng, ông cũng không bực tức như một số nhân vật khác. Và tôi một lần nữa thấy những đặc điểm văn chương của ông qua những bài ông gửi. Một thứ văn đẹp, da diết và buồn.

Bảo Ninh có sự gần gũi với Patrick Modiano của nước Pháp, quá khứ, nỗi buồn là sở trường của ông. Bảo Ninh đã hoàn toàn chính xác khi đặt tên tiểu thuyết đầu tay của mình là “Nỗi buồn chiến tranh”. Cuốn sách đã từng bị một nhà xuất bản lớn từ chối vì cái tên và nội dung quá mới mẻ lúc ấy. Sau đó, một nhà văn kiêm biên tập viên một nhà xuất bản khác đã đổi tên thành “Thân phận của tình yêu” để tác phẩm ra đời dễ hơn và có thể... bán chạy!

Khi đã hiểu phần nào tính cách của Bảo Ninh, tôi đã sáng rõ vì sao ông từng tuyên bố không dính dáng gì đến bộ phim “Nỗi buồn chiến tranh” sau khi đã bán bản quyền cho những nhà làm phim Hollywood. Đọc kịch bản phim, ông không còn thấy nó giống đứa con văn học của mình nữa, ông cự tuyệt nó dù bên đối tác điện ảnh vẫn có quyền thực hiện. Thấy thái độ kiên quyết của Bảo Ninh, đoàn làm phim cũng dừng làm và tôi tin rằng còn rất lâu hoặc không bao giờ có bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm được coi là viết hay nhất về chiến tranh Việt Nam.

Vẫn là sự cương quyết của Bảo Ninh, một thời gian trước đây một họa sĩ Hà Nội mở triển lãm về bản thảo của các nhà văn. Họa sĩ đã có được bản thảo của những nhân vật rất “oách” như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà nhưng khi đến Bảo Ninh và “Nỗi buồn chiến tranh” thì thất bại. Bảo Ninh đã từ chối bán hoặc trao đổi bản thảo gốc của mình.

Mọi sự so sánh đều khập khiễng nhưng tôi lại nhớ đến Franz Kafka khi mọi mẩu bản thảo viết tay của ông đều trở thành tài sản quốc gia của Israel và đã có những cuộc chiến pháp lý rất căng thẳng nhằm lưu giữ bản thảo của thiên tài Do Thái.

Bảo Ninh, trừ phi chạm đến những vùng kí ức hoặc những khoảng không thể chạm thì ông rất lặng lẽ và kiệm lời. Ông đã nhiều lần đến Nhà số 4 cơ quan tôi để dự các hội nghị này kia nhưng hầu như không bao giờ phát biểu hoặc phát biểu rất ngắn và giản dị. Bảo Ninh chưa bao giờ là người hoạt ngôn, y như Nguyễn Huy Thiệp. Các ông đều nói rất chậm, ngắn, ngắt quãng và có thể khiến công chúng ngạc nhiên vì văn chương các ông hoặc là góc cạnh, sắc sảo hoặc tinh tế mà ngôn ngữ giao tiếp lại không mạnh. Có lẽ cả Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh khi đã dồn hết tinh túy vào câu chữ thì ngoài đời các ông rất mộc mạc, chân phương.

Tôi cũng từng quan sát dịch giả Hoàng Đăng Lãnh, anh trai của Bảo Ninh khi ông từ nước Đức trở về tham gia quảng bá cho những dịch phẩm ông chuyển ngữ. Tôi thấy hai anh em nhà Bảo Ninh đều rất tinh tế về ngôn ngữ tiếng Việt, Hoàng Đăng Lãnh ở xa Tổ quốc nhiều năm nhưng những bản dịch tiếng Việt của ông rất sáng và chuẩn.

Dịch phẩm “Diệt vong” của Hoàng Đăng Lãnh, một tác phẩm tôi nghĩ rất khó dịch của tác giả Thomas Bernhard đã được Giải thưởng Văn học dịch của Hội Nhà văn Hà Nội. Tôi nghĩ hai anh em nhà Bảo Ninh may mắn thừa hưởng gien hoặc được rèn luyện từ truyền thống gia đình khi có cha là giáo sư ngôn ngữ Hoàng Tuệ, nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học.

Tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh”.
Tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh”.

Thỉnh thoảng tôi lại có cơ hội ngồi cùng Bảo Ninh và trò chuyện. Những lúc ấy tôi quan sát ông thật kĩ và nghe ông kể chuyện. Mái tóc xoăn bù xù muối tiêu của ông ngày càng chuyển màu thời gian. Ngồi nói chuyện với bạn bè, thỉnh thoảng ông lại ngửa người ra sau rất khoái hoạt. Ông trầm ngâm nghe mọi người trò chuyện nhưng trong nháy mắt, khi chạm đến những “vùng cấm”, Bảo Ninh lại ngồi thẳng dậy, rất hăng hái và thậm chí giận dữ. Những người xung quanh đều là bạn thân hoặc hiểu ông, mọi người “chịu trận” hoặc mặc cho ông nói thỏa thích.

Ông được nể vì, tôn trọng dù tôi thấy ông mắng mỏ những người bạn thân vài lần nhưng không ai giận cả vì họ đều biết ông có nguyên khối nhức nhối về chiến tranh và những vùng kí ức rất nhạy cảm. Bảo Ninh nói một lúc rồi lặng im, chiêu một ngụm rượu rồi lại như chưa có chuyện gì xảy ra.

Tôi đã đọc lời giới thiệu của Bảo Ninh cho tiểu thuyết “Chuyện của Paco” của nhà văn người Mỹ Larry Heinemann. Đó cũng là một cuốn tiểu thuyết xuất sắc của văn học Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam và từng được Giải thưởng Sách Quốc gia Mỹ. Hai người lính ở hai chiến tuyến đối đầu đã trở thành bạn thân, tôn trọng và ngưỡng mộ tài năng của nhau.

Vết thương chiến tranh đã bớt đau thương và người ta cởi lòng hơn. Nhà văn nổi tiếng người Trung Quốc Diêm Liên Khoa cũng viết lời giới thiệu cho bản tiếng Hoa của “Nỗi buồn chiến tranh” với sự trân trọng tương tự. Thế hệ của Bảo Ninh, Larry Heinemann, Diêm Liên Khoa đã từng có lúc phải đối đầu với nhau bởi chiến tranh nhưng bây giờ họ là bạn hữu và đưa ra những cái bắt tay trân trọng và trìu mến. Chiến tranh và quá khứ không thể lãng quên nhưng những khoảng đau thương đã được nén lại để cuộc sống hiện tại được bình yên, nảy nở.

Mới gần đây thôi, Bảo Ninh cho công bố một phần cuốn tiểu thuyết mới nhất của mình trên một tạp chí, tên tạm thời của nó là “Đường về”. Mọi người chờ mong và háo hức một gương mặt mới của ông, bây giờ có thể không phải là chiến tranh nữa mà thời bình với những đắng cay, gian nan khác biệt. Cuốn sách mới công bố một phần nên chưa thể đánh giá hoặc so sánh nó với “Nỗi buồn chiến tranh” nhưng dù thế nào tôi nghĩ Bảo Ninh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình với tư cách một người lính và một nhà văn.

Và người lính Bảo Ninh, bây giờ ông có còn buồn nữa không?

Uông Triều

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.