Tình nguyện vào chiến trường
Anh hùng Phan Văn Lai sinh năm 1930 tại xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (nay thuộc Ninh Bình) trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Năm 1948, ở tuổi 18, Phan Văn Lai biết tin người anh cả Phan Văn Tòng đã hy sinh vì đất nước, ông nắm tay tự hứa mình phải quyết chí vững bước truyền thống cách mạng của gia đình, quê hương (năm 1970, người em út Phan Văn Sơn trong 4 anh em ông cũng hy sinh tại chiến trường Khu 5).
Vì một cơ duyên, do có người anh họ công tác ở Ty Công an tỉnh Hà Nam, 19 tuổi, Phan Văn Lai được tuyển chọn vào lực lượng công an. Bắt đầu bằng công việc Thư ký cho Trưởng ty Công an Hà Nam Trần Lung, dần trưởng thành và có những kinh nghiệm nhất định trong công việc, năm 1964, ông được giao một trọng trách mới, vô cùng thử thách và hiểm nguy, đó là hoạt động trong vùng địch.
Nhớ lại những ngày tháng ấy, Thiếu tướng Phan Văn Lai kể: “Năm 1962, Bộ Công an phát động phong trào viết đơn tình nguyện đi chiến trường. Khi đó, tôi đang là Phó Chánh văn phòng Ty Công an tỉnh Hà Nam liền viết đơn và được chấp thuận. Sau một thời gian được học tập, bồi dưỡng về công tác chính trị cũng như nghiệp vụ hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, tháng 1/1964, tôi và đồng đội được lệnh xuất phát vào chiến trường”.
Nhiệm vụ này là hoàn toàn bí mật, với ngay cả những người thân yêu nhất, ông cũng không được phép tiết lộ. Trước đó, trong một lần tình cờ vào thăm ông tại nơi học tập, vợ ông hỏi: “Bao giờ anh về?”, Phan Văn Lai đành phải nói dối: “Cuối tuần được nghỉ anh sẽ về”.
Kể lại chi tiết ấy, Thiếu tướng Phan Văn Lai bồi hồi: “Lúc đó, dù trong tim ngập tràn cảm xúc thương vợ, nhớ con nhưng tôi biết không còn cách nào khác. Cũng không thể ngờ, lời hứa ấy phải mất hàng chục năm sau tôi mới thực hiện được”.
Quyết tâm ấy đã được ông khẳng định trong lá thư gửi cho vợ trước ngày lên đường: “Xa em muôn dặm nghìn trùng/ Nghĩa tình chung thủy sắt son tạc lòng/ Bắc, Nam liền dải chung dòng/ Thù nhà, nợ nước trả xong anh về”.
Từ năm 1964 đến năm 1976, 12 năm ông ở chiến trường là 12 năm vợ ông, bà Nguyễn Thị Y (bí danh Kim Thanh) và 3 người con trai Thái, Thịnh, Thắng khắc khoải chờ đợi, ngóng trông trong lo lắng, mỏi mòn...
Công tác gian nan
Vào chiến trường, ông được phân công về Ban An ninh tỉnh Thừa Thiên, sau đó là Ban An ninh Khu Trị Thiên Huế. Khi thì ông tập trung vào công tác vận động quần chúng, tuyên truyền cách mạng, khi tiến hành công tác xây dựng mạng lưới an ninh mật, an ninh cơ sở và tổ chức hoạt động trấn áp để triệt xóa, răn đe các đối tượng chống đối hay bóc gỡ cơ sở của địch cài cắm lại, diệt tề điệp, trừ gian. Với phương thức linh hoạt, kiên trì bám trụ cơ sở, ông và đồng đội công tác ngày càng có hiệu quả, gây được thanh thế, tạo niềm tin trong nhân dân cũng như khiến địch lo sợ, không dám hoạt động ngang nhiên như trước.
Gia đình đồng chí Phan Văn Lai trước khi ông vào chiến trường, năm 1963. Ảnh: NVCC
Nhờ có kinh nghiệm công tác ở vùng địch hậu thời chống Pháp nên ông chủ động tích cực bám cơ sở, tiếp xúc nhiều với dân để thông thạo địa bàn, nắm tình hình kịp thời và có thể tự di chuyển không cần người dẫn đường. Ông cho biết, kinh nghiệm là khi đã xuống địa bàn, cần hạn chế thấp nhất các chuyến di chuyển lộ liễu, nhất là không xuất hiện nhiều lần ở một địa điểm để tránh mật báo viên của địch phát hiện.
Thiếu tướng Phan Văn Lai kể: “Mỗi khi có tin địch càn quét, tôi rút về cơ sở đặc biệt trụ lại, khi địch càn tới, tôi vòng lại phía sau an toàn, dù có đợt bám trụ ở cơ sở cả năm trời. Nhưng phương thức bám trụ như vậy cũng phải đối mặt với những thách thức không nhỏ mà tôi đã đúc kết về cuộc sống của người cán bộ nằm vùng ở cơ sở: “Lấy đất làm giường/ Lấy hầm làm nhà/ Mưa gió đội trời che thân/ Giá rét lấy sương sưởi ấm/ Đói lòng lấy nước thay cơm”... Và lòng luôn lạc quan, tin tưởng, quyết giành và giữ sự sống, tiếp tục cuộc chiến đấu đến ngày toàn thắng”.
Với lòng tin và sự kiên trì ấy, suốt trong những năm tháng hoạt động tại chiến trường Trị Thiên Huế, đặc biệt trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ông và đồng đội đã giành được những chiến công xuất sắc như giải phóng Nhà lao Thừa Phủ, giải thoát an toàn cho hơn 2.000 cán bộ, đảng viên, du kích của ta; chiếm các trụ sở của ngụy quyền, phòng văn khố (cơ quan lưu trữ tài liệu), đặc biệt là nhà ở, văn phòng và trung tâm thẩm vấn của CIA, chọn lọc, thu giữ được 20 gùi tài liệu tối mật, kịp thời chuyển lên căn cứ của Ban An ninh khu... Kết quả công tác đấu tranh trấn áp phản cách mạng đã gây cho địch tổn thất nặng nề, lực lượng cốt cán và đầu não bị sứt mẻ lớn, một số tổ chức của địch bị xóa sổ, tinh thần bọn tay sai sa sút nghiêm trọng, nội bộ địch mâu thuẫn, nghi ngờ, thanh trừng lẫn nhau làm cho hệ thống kìm kẹp của địch từ trên xuống dưới bị tê liệt, rúng động, tan rã.
Đồng chí Phan Văn Lai (bên trái) và đồng đội tại Quảng Trị, năm 1972. Ảnh: NVCC
Một trong những chiến công xuất sắc ấy là xử lý tên Trần Đình Thương, Phó tỉnh trưởng Thừa Thiên. Thiếu tướng Trần Văn Lai nhớ lại: “Sáng mồng 2 Tết Mậu Thân, sau khi vượt qua cầu Bến Ngự, tôi tham gia cùng cán bộ an ninh vũ trang truy bắt tên ác ôn khét tiếng Trần Đình Thương. Sau khi tiếp cận ngôi nhà được thiết kế theo lối nhà vườn của hắn, giải thích chính sách khoan hồng của cách mạng, nhưng người nhà Thương vẫn che giấu hành tung của hắn, chúng tôi tỏa ra lục soát. Hắn cố ý để một chiếc thang bắc vào tường rào tiếp giáp vườn nhà bên cạnh hòng đánh lạc hướng, nhưng chúng tôi phán đoán hắn có thể vẫn trốn trong nhà. Phát hiện có dấu chân người in trên tường trong buồng ngủ của vợ chồng hắn, tôi nhận định nhiều khả năng hắn đang lẩn trốn trên trần nhà. Sau những giờ phút giằng co, kêu gọi đầu hàng sẽ có sự khoan hồng của cách mạng nhưng hắn vẫn ngoan cố dùng lựu đạn uy hiếp tính mạng của toàn đội, tôi xin ý kiến đồng chí Bảy Khiêm (tức Nguyễn Đình Bảy, khi đó là Phó trưởng ban An ninh Khu Trị Thiên Huế) thống nhất chỉ đạo hai đồng chí an ninh vũ trang dùng súng B41 tiêu diệt đối tượng”.
Trong lòng nhân dân
Sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, địch ra sức khủng bố, bắt bớ cán bộ ta. Trong tình hình địch đã bình định chiếm lại gần hết các xã vùng giải phóng Phú Vang, ông cũng thường xuyên phải di chuyển để tránh sự truy lùng của địch. Lần ấy, để tránh càn, ông và đồng đội được đưa về gia đình ông Hoàng Sa tại Phú Vang. Nào ngờ, khi ông cùng một đồng chí nữa vừa xuống được hầm bí mật thì giặc càn tới nơi.
Suốt trận càn, địch chốt ngay trong vườn nhà ông Hoàng Sa. 5 ngày đêm nằm dưới hầm bí mật, ông đã chứng kiến gia đình ông Hoàng Sa bị tra khảo, đánh đập dã man, bị hăm dọa bắn bỏ, đốt nhà nếu không khai. Vậy mà đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết, ông Hoàng Sa và gia đình vẫn một mực bảo vệ cán bộ cách mạng, vẫn kiên quyết trả lời địch: “Gia đình tui không có hầm bí mật, không nuôi Việt Cộng trong nhà”. Và hễ bọn chúng lơ là không giám sát là gia đình ông Hoàng Sa lại tìm cách đưa thức ăn, nước uống xuống cho ông và đồng đội.
Thiếu tướng Phan Văn Lai (thứ sáu, từ trái sang) trao tặng di ảnh chân dung anh hùng liệt sĩ tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, năm 2025. Ảnh: Khánh An
Thiếu tướng Phan Văn Lai cho biết: “Trong suốt thời gian bám trụ cơ sở, tôi cùng các đồng đội thường xuyên phải đối mặt với các cuộc vây ráp, càn quét, xăm hầm bí mật của địch. Nhưng nhờ dựa vào những cán bộ cơ sở gan dạ, mưu trí, trung kiên, những tấm lòng bất khuất, thà hy sinh để bảo vệ cán bộ cách mạng của những người dân yêu nước mà chúng tôi vẫn tồn tại, hoạt động được ngay trong vùng địch kiểm soát gắt gao”. Cho đến tận bây giờ, những cái tên đồng đội ở Phú Vang, Mặt trận Trị Thiên Huế ngày ấy như các đồng chí Hồ Sỹ Ba, Lê Văn Trĩ, La Đình Mão, ... và những người dân như ông bà Hoàng Sa, o Hạnh, o Giáng vẫn lưu dấu mãi trong ông.
Ở tuổi 96, Thiếu tướng Phan Văn Lai vẫn hăng say hoạt động và thường xuyên có mặt trong các hoạt động xã hội, từ thiện cũng như đảm nhiệm trọng trách Trưởng ban Liên lạc Công an chi viện chiến trường miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhiều năm liền ông là thành viên danh dự và hỗ trợ nhiệt tình cho các hội khuyến học ở quê nhà và dành nhiều sự ủng hộ cho các quỹ nghĩa tình đồng đội, đền ơn đáp nghĩa. Với ông, còn sức khỏe là ông còn cống hiến cho xã hội và những hoạt động cộng đồng.
Ngày 27/1/2016, Thiếu tướng Phan Văn Lai, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, nguyên Chánh Thanh tra Bộ Công an được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là sự ghi nhận cho những cống hiến và chiến công của ông trong những tháng năm hoạt động trong vùng địch.