Thi sĩ Đinh Hùng: Cúi mặt u huyền khép áo xuân

Đinh Hùng là một tài năng đặc biệt trong nền thi ca hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ trước. Chỉ với tập “Mê hồn ca”, thậm chí chỉ cần với hai bài trong tập ấy, theo Đỗ Lai Thúy trong “Con mắt thơ”, Đinh Hùng đã dọn sẵn cho mình một chỗ đứng vững chãi trong thi đàn, “át những ngôi sao đang tỏa sáng bấy giờ như Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương...”.

Đinh Hùng cũng là một trong số ít các nhà thơ thời kỳ tiền chiến tiếp tục nuôi dưỡng và tuôn chảy dòng thơ lãng mạn sau cột mốc 1945 bằng tập “Đường vào tình sử” (1961). Tài năng nhưng đoản mệnh, thi sĩ họ Đinh đã giã từ cõi thế vào ngày 24 tháng 8 năm 1967, hưởng thọ 47 tuổi. Tính đến nay, đã hơn nửa thế kỷ từ ngày Đinh Hùng qua đời.

Tuổi thơ đặc biệt cùng những bóng hình ám ảnh

Đinh Hùng quê gốc ở làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông (cũ), thân phụ là cụ Hàn Phụng, làm đến chức Hàn lâm thị độc. Trong thời gian phụ trách sứ quán Đông Pháp bên Philippines, ông bà Hàn đã hoài thai Đinh Hùng nhưng rồi lại sinh Đinh Hùng ở Việt Nam tại làng Trung Phụng, ngoại thành (nay thuộc nội thành) Hà Nội vào ngày mùng 3 tháng 7 năm 1920.

Mối lương duyên hải đảo – đất bằng để sinh hạ thi sĩ họ Đinh phải chăng đã tạo ra một tâm cách riêng biệt của ông, như chính những câu thơ ông đã viết trong bài “Thoát duyên trần cấu”: “Nghìn năm chưa thoát cơn mê sảng/ Ta thác sinh vào ngọn hải đăng/ Hỏi bao quần đảo vừa ly tán/ Trần tục là đâu? Hỡi đất bằng!”.

Cố thi sĩ Đinh Hùng.
Cố thi sĩ Đinh Hùng.

Tuổi thơ Đinh Hùng sớm chịu nhiều ám ảnh về cái chết của những người thân, là những giai nhân hồng nhan bạc mệnh, điều này làm nên những chấn thương tâm lí sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ. Đầu tiên là cái chết của chị Tuyết Hồng năm 1931, người chị gái thứ ba của Đinh Hùng. Nói như Vũ Hoàng Chương, Tuyết Hồng “vì giận hờn với tình duyên mà quyết mượn làn nước trong rũ sạch nợ trần thế”.

Cái chết của Tuyết Hồng ở Hồ Hoàn Kiếm đã làm rúng động cả Hà Nội thời ấy, mở đầu cho cả một “mùa tự tử” sau này, như cách gọi của báo “Đàn bà mới”. Ba năm sau (1934), người chị lớn nhất của Đinh Hùng là chị Loan cũng qua đời khi còn rất trẻ. Tiếp đến là cái chết của Liên, cô em họ xa và cũng là người Đinh Hùng yêu tha thiết.

Ngoài cái chết của những người phụ nữ trong những khoảng thời gian rất gần nhau như vừa kể, Đinh Hùng còn phải chịu tang song thân và tiễn biệt người bạn thân nhất của mình là Thạch Lam (1910 - 1942).

Một loạt cái chết dồn dập như vậy khiến cho thơ Đinh Hùng mang những ám ảnh đặc biệt và kỳ dị về cái chết, về một thế giới khác, về các thi ảnh, biểu tượng như “hồn ma, bóng ma, yêu ma, yêu tà, yêu quái, lệ quỷ, xương khô, hài cốt, tử thần, tử khí, u ngục, địa ngục, nấm mồ, đỏ máu, hoang dại, cuồng điên...”.

Một thế giới thi ca mê ảo

Theo thống kê của Đỗ Lai Thúy, tập “Mê hồn ca” (19 bài thơ) có tới 85 chữ hồn, được hiểu theo năm nghĩa: 1. Linh hồn (người): “Em có mấy linh hồn bao nhiêu mộng” (Bài ca man rợ). 2. Hồn cầm thú: “Cảnh diễm lệ ngẩn ngơ hồn cầm thú” (Người gái thiên nhiên). 3. Hồn cây cỏ: “Mùi cỏ lá bỗng thoảng hồn mong nhớ” (Người gái thiên nhiên). 4. Hồn những vật vô tri: “Hồn gỗ đá nặng nề vừa tỉnh giấc” (Mê hồn ca). 5. Hồn những thứ trừu tượng: “Cảm hồn trời bao dãy núi trầm tư” (Trời ảo diệu).

Còn theo thống kê của chúng tôi, tập “Mê hồn ca” cũng xuất hiện tới 14 lần hình ảnh nấm mộ được biểu hiện bởi các từ ngữ: “mộ, mồ, cổ mộ, cửa huyệt”. Có thể trích ra đây vô số câu thơ kỳ ảo của Đinh Hùng: “Ta hát bài kinh thoảng dã hương/ Từng đêm chiêu niệm bắt hồn Nàng/ Lời ra cửa biển tìm sao rụng/ Rỏ xuống mồ em giọt lệ thương” (Màu sương linh giác); “Chúng ta khóc như một bầy thú dữ/ Lòng dã man nghe trái đất tan tành” (Mê hồn ca); “Cửa ngục sông hồ run ánh lửa/ Trăng mê màu huyết, loạn hồng vân/ Hoang sơ, tuổi đá bừng cơn mộng/ Cúi mặt u huyền khép áo xuân” (Hồi sinh – Lạc hồn ca)...

Người đương thời không phải ai cũng cảm và hiểu được thơ Đinh Hùng, nhưng những người đã hòa điệu được với hồn thơ Đinh Hùng thì luôn dành cho ông những đánh giá thật đặc biệt. Bùi Giáng đã phải thốt lên: “Nguồn thơ của Đinh Hùng trong “Mê hồn ca” là nguồn thơ lạ nhất trong thi ca Việt Nam”.

Còn trong Từ điển Văn học (bộ mới), Văn Tâm nhận xét: “Thơ Đinh Hùng hàm súc, lối thao tác "tụ" và "tán" nhanh chóng, những "từ" và "tứ" đột xuất, khiến thơ ông có khả năng gây được cộng cảm, dễ lưu vào tâm trí người đọc”. Sau “Mê hồn ca”, tập “Đường vào tình sử” (1961) gồm 57 bài của Đinh Hùng được chính quyền Sài Gòn trao giải nhất Giải thưởng Văn chương và thi ca năm 1962.

Với tập thơ này, Bùi Giáng cũng có nhận xét, đó là những bài thơ “bát ngát ở lại buồn bã vô song”: “Chúng ta đến nghe nỗi sầu tinh tú/ Những ngôi sao buồn suốt một chu kỳ/ Những đám tinh vân sắp sửa chia ly/ Và sao rụng biếc đôi tay cầu nguyện/ Ôi cặp mắt sáng trăng xưa hò hẹn/ Có nghìn năm quá khứ tiễn nhau đi/ Anh vịn tay số kiếp dẫn em về/ Nhìn lửa cháy những lâu đài mặt biển” (Đường vào tình sử).

Ít ai biết được rằng, với hầu hết các thi phẩm của mình, thi sĩ họ Đinh có thói quen nằm mà viết: “Anh nằm vắt chân chữ ngũ, đặt tập giấy lên đùi. Có lẽ lâu ngày nên quen, trong tư thế đó, chữ anh viết vẫn bay bướm, rõ ràng, không dập xóa, do đó trông bản thảo nào cũng sạch sẽ, xinh đẹp” (Mặc khách Sài Gòn – Tô Kiều Ngân).

Các tác phẩm của cố thi sĩ Đinh Hùng.
Các tác phẩm của cố thi sĩ Đinh Hùng.

Mối duyên với âm nhạc của Đinh Hùng

Theo “Mặc khách Sài Gòn” của Tô Kiều Ngân, Đinh Hùng học nhạc từ nhỏ và là một tay chơi vỹ cầm điêu luyện. Ông đã có công lớn trong việc đóng góp phần lời cho hai ca khúc “Chiều tím” (nhạc Đan Thọ) và “Mộng dưới hoa” (nhạc Phạm Đình Chương).

Có thể nói, “Chiều tím” là ca khúc để đời của nhạc sĩ Đan Thọ, nhưng ít ai biết được rằng, đây là ca khúc có phần nhạc xuất hiện trước phần lời chứ không phải một bài hát phổ thơ như nhiều người lầm tưởng. Ra đời năm 1956 và được đón nhận một cách nồng nhiệt, gần nửa thế kỷ trôi qua, bài hát đã được biết bao thế hệ ca sĩ thể hiện, từ các ca sĩ hải ngoại như Lệ Thu, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, Ý Lan... đến các ca sĩ trong nước như Mỹ Linh, Hồng Nhung...

Và nếu như không có những ca từ mượt mà say đắm của Đinh Hùng thì không thể làm nên sự trọn vẹn của một giai phẩm như thế: “Chiều tím, chiều nhớ thương ai. Người em tóc dài, sầu trên phím đàn, tình vương không gian, mây bay quan san, có hay? Đàn nhớ từng cánh hoa bay, vầng trăng viễn hoài, màu xanh ước thề dòng sông trôi đi. Lúc chia ly còn nhớ chăng?...”

Còn “Mộng dưới hoa” cũng là một ca khúc nổi tiếng không kém, được Phạm Đình Chương phổ nhạc khoảng năm 1957, dựa vào bài thơ “Tự tình dưới hoa” (sau được in trong tập “Đường vào tình sử”). Thế nhưng thực chất ca từ của “Mộng dưới hoa” chỉ có 8 câu đầu là dựa vào bài thơ “Tự tình dưới hoa”, bắt đầu từ điệp khúc của lời một cho đến hầu hết lời hai đều do Đinh Hùng viết thêm lời, Phạm Đình Chương chỉ đóng góp chút ít. Ca khúc thường được các đôi song ca chọn để thể hiện này có phần nhạc du dương và phần lời có thể nói đạt đến độ tuyệt mỹ: “Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng/ Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng/ Mắt xanh là bóng dừa hoang dại/ Âu yếm nhìn tôi không nói năng/ Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ/ Mây ngàn gió núi đọng trên mi/ Áo bay mở khép nghìn tâm sự/ Hò hẹn lâu rồi - Em nói đi/...”.

Tiên cảm về giây phút lâm chung

Đinh Hùng ngoài tài thơ và tài nhạc còn nổi danh về uống rượu. Họa sĩ Tạ Tỵ kể rằng: “Ở tuổi hoa niên, tôi quen nhiều bạn biết uống rượu nhưng chưa thấy ai uống bằng Đinh Hùng và Văn Cao, riêng Đinh Hùng có thể uống hai lít đế không cần đồ nhắm. Vì thế, Hùng mới có khả năng đối ẩm với Tản Đà hàng nửa ngày trời”.

Có lẽ do uống rượu quá nhiều nên khi mới 47 tuổi, thi sĩ đã mắc bệnh nặng về gan và giã từ cõi thế vào lúc 5h sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại Bệnh viện Bình Dân ở Sài Gòn. Sinh thời, trong bài thơ “Cung đàn tưởng niệm” (tập “Đường vào tình sử”), Đinh Hùng viết: “Khi anh chết các em về đây nhé/ Vì chút tình lưu luyến với nhau xưa/ Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ/ Tay cầm hoa xõa tóc đứng bên mồ...”.

Không ngờ trên thực tế đã xảy ra đúng như những điều thi sĩ viết trong thơ và điều này không hề là một sự sắp đặt cố ý. Gia cảnh nhà thơ lúc đó rất khó khăn, may sao có một vị tướng mến mộ tài thơ của Đinh Hùng đã đứng ra tổ chức tang lễ cho ông, thậm chí sau đó đã tặng cho bà quả phụ Đinh Hùng một căn biệt thự ở Khánh Hội. 

Trong tang lễ của thi sĩ họ Đinh, người ta thấy có đến hai chục thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng theo sau linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuống lòng huyệt, tiễn đưa người thi sĩ...

Đinh Hùng đã đi xa, nhưng vị trí của ông là khó thay thế trong lịch sử thi ca hiện đại Việt Nam. Xin được khép lại bài viết bằng những câu thơ trong tập “Đường vào tình sử” mà tôi rất yêu thích: “Em tự ngàn xưa chuyển bước về/ Thuyền trên sóng mắt dẫn trăng đi/ Những dòng chữ lạ buồn không nói/ Nét lửa bay dài giấc ngủ mê/ Em đến mong manh vóc ngọc chìm/ Tàn canh hồn nhập bóng trăng im/ Ta van từng đóa sao thùy lệ/ Nghe ý thơ sầu vút cánh chim....

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.