TSKH Phan Hồng Giang: Con chữ mảnh mai

TSKH Phan Hồng Giang sinh năm 1941 ở Huế, là con trai thứ của nhà phê bình văn học Hoài Thanh. Ngay từ nhỏ, anh đã được du học (từ lớp 4 tới lớp 8, cậu bé Nguyễn Đức Hân đã được vào học ở Trường Thiếu nhi Việt Nam tại Quế Lâm và Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc). Mãi tới năm lớp 9, anh mới về Hà Nội học... Năm 1960, anh được chọn đi học tại Khoa Ngữ văn ở Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva mang tên M.Lomonosov (MGU). Có lẽ cái duyên gắn anh với văn học Nga Xôviết cũng từ thuở đó...

Và thực ra, tôi biết anh trước tiên là với tư cách một dịch giả. Ngày tôi còn nhỏ, những tác phẩm mà Phan Hồng Giang dịch từ nguyên bản hoặc bản dịch bằng tiếng Nga như Ngày phán xử cuối cùng (Blaga Dimitrova), Dagestan của tôi (Rasul Gamzatov), Cánh buồm đỏ thắm (A. Grin)… đã thực sự là những người bạn đồng hành thân thiết trong hành trình tinh thần đến với cái đẹp, cái thiện, cái lãng mạn… Lớn lên, sang Liên Xô du học, tôi càng thấm thía hơn cái tinh thần Nga la tư rất đậm đặc mà mình đã được tiếp nhận từ sách dịch của Phan Hồng Giang.

Sau này, bước vào nghề viết, tôi đã có nhiều dịp được tiếp xúc gần với TSKH Phan Hồng Giang và người vợ hiện nay của anh, nữ thi sĩ Nguyễn Thị Hồng Ngát, người phụ nữ đầy cảm xúc của đồng đất Hưng Yên. Và càng hiểu cặp vợ chồng văn nghệ sĩ này, tôi càng thấy yêu quý và kính trọng họ. Trong cảm nhận của tôi, đó là những trí thức đích thực, biết vượt qua những bụi bặm của đời thường quá nhiêu khê của chúng ta hiện nay để giữ gìn những di sản tươi mát từ thời thanh xuân.

Và nói thực, tôi rất mong sau này, đến tuổi như họ bây giờ, tôi vẫn còn giữ được ở mình sự trong trẻo và điềm đạm khi nhìn cuộc sống như họ.

- Hồng Thanh Quang: Mới đây, tôi có đọc lại bộ toàn tập của nhà phê bình Hoài Thanh, thân phụ của anh. Và tôi thực sự tâm đắc với ý tưởng của ông trong bài “Văn chương là văn chương”. Tôi xin được trích dẫn ra đây: “Người ta vẫn có thể đứng về phương diện xã hội phê bình một văn phẩm cũng như người ta có thể phê bình về phương diện triết lý, tôn giáo, đạo đức… Nhưng có một điều không nên quên là bao nhiêu phương diện ấy đều là phương diện phụ. Văn chương muốn gì thì gì trước hết vẫn phải là văn chương đã…”. Điều tưởng như hiển nhiên ấy mà ở vào những năm 30 của thế kỷ trước, đã châm ngòi cho cả một cuộc tranh luận quyết liệt… Với tư cách một người nghiên cứu văn học, anh có thể nói gì về điều này?

- TSKH Phan Hồng Giang: Điều mà nhà văn Hoài Thanh đã khẳng định, như anh nói, quả là một chân lý hiển nhiên. Bất kể một sản phẩm tinh thần nào trong xã hội được đặt tên là do mang đặc trưng riêng nào đó để nó trở thành chính nó. Văn chương cũng vậy. Nó thiên về động chạm đến những vấn đề nhân tình thế thái, tâm hồn - số phận con người ít nhiều mang tính nhân văn vĩnh cửu dù bao giờ cũng khởi nguồn từ những trường hợp cụ thể hữu hạn về không gian - thời gian. Nó là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ ở mức độ tinh túy nhất.

Điều này lý giải vì sao Truyện Kiều hàng trăm năm sau vẫn còn nguyên sức lay động lòng người, trong khi những bài báo dù “nổ vang” đến mấy, có hiệu ứng tích cực đến mấy  thường cũng chỉ có tác động nhất thời nếu chưa đạt tới tầm văn học. Mỗi loại hình đều có chức năng, đặc trưng riêng, không hề mang tính phân biệt sang hay không sang.

Tiếc rằng cho tới tận ngày hôm nay trên thực tế không phải không còn cách tiếp cận văn học  mà hơn 70 năm trước Hoài Thanh đã từng tỏ thái độ không đồng tình.

- Giọng điệu của nhà phê bình văn học Hoài Thanh trong các bài bút chiến của mình thuở đó rất cứng cỏi nhưng không thô bạo, khác với một số nhân vật cũng “tham chiến” ở giai đoạn này. Chắc trong đời sống, bác Hoài Thanh cũng là một người mềm mỏng? Anh đã bao giờ bị cha mình rầy la nặng chưa?

- Anh nhận xét hoàn toàn đúng. Người ta nói “Văn là người” - văn của Hoài Thanh thể hiện tính cách ngoài đời của ông: tự tin vào chủ kiến riêng của mình nhưng không bao giờ đao to búa lớn, luôn tôn trọng người đối thoại với mình. Trong đời sống thường nhật, ông luôn từ tốn mềm mỏng, “bực không tức, giận không cáu”, không bao giờ gay gắt to tiếng. Với riêng tôi, nếu ông thấy có điều gì không hay không phải thì ông chọn thời điểm thích hợp ôn tồn khuyên bảo để “nghiêm túc rút kinh nghiệm sâu sắc” mà thôi.

- Khi biết anh cũng đi theo con đường của cha mình, bác Hoài Thanh có dặn dò anh điều gì không?

 - Cha tôi căn dặn tôi rằng, vô luận làm việc gì trên đời trước hết cũng phải vì lẽ lớn của dân tộc, của đất nước; riêng trong văn chương cần phải giữ cho được sự tự do trong suy nghĩ - sáng tạo và sự  trung thực ít ra là với chính mình.

- Trong những cuộc trò chuyện riêng tư, có bao giờ anh nghe thấy cha mình đưa ra những nhận xét khác với những gì mà ông đã viết thành văn bản về các tác phẩm, các nhân vật chính của nền văn học chúng ta ở giai đoạn đó không?

-  Ông luôn luôn nói và viết như mình nghĩ, không bao giờ nghĩ một đằng, nói một nẻo. Tất nhiên trong vài trường hợp nào đó cũng có thể đôi lúc ông cân nhắc “gia giảm” liều lượng khen chê để “lập ngôn” cho dễ thuyết phục hơn.

- Tồn tại một xu hướng thích tô vẽ cho quá khứ, cho rằng trong quá khứ cái gì cũng hay hơn hiện tại. Dường như các nhà văn thời trước đối xử với nhau tử tế hơn, họ cũng tài năng hơn… Anh là người được nhìn thấy ở khoảng cách gần những nhân vật chính trong làng văn nước ta ở nhiều thời, anh nghĩ thế nào?

-  Đúng là có xu hướng đó, một thứ tâm trạng hoài cổ “bao giờ cho đến… ngày xưa…”. Ngày xưa số người viết văn ít hơn bây giờ (không lên tới con số hàng ngàn như hiện nay!). Phần lớn họ thấm nhuần đạo đức Nho giáo, vốn kiến thức Tây học cũng khá dồi dào nên dễ gây ấn tượng là họ tài năng hơn, đối xử với nhau mềm mỏng, lịch thiệp hơn. Nhưng đi sâu vào thì theo tôi không hẳn là thế, vì thời nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, bên cạnh đa số tử tế luôn nảy nòi những kẻ “đâm ba chày củ”, luôn coi mình “là số 1, là duy nhất, là tuyệt vời” để rồi “mục hạ vô nhân”, lấy làm thích thú với các scandal.

Dù thế nào ấn tượng chung còn đọng lại trong tôi về thế hệ các nhà văn tôi có dịp được gần gũi là họ thật ấm áp, trong lành và tài ba.

- Có ý kiến cho rằng, những thành tựu lớn nhất trong phê bình văn học của bác Hoài Thanh là ở thời trẻ. Anh có nghĩ thế không?

- Dễ đồng tình với nhận xét như vậy. Trong lĩnh vực nghệ thuật, tài năng thường bộc lộ khá sớm. Nên nhớ thi sĩ Nga Lermontov đã kịp để lại di sản thơ vĩ đại khi chỉ sống 27 năm trên cõi đời. Vũ Trọng Phụng cũng đã có sự nghiệp văn chương đồ sộ khi chỉ tồn tại 27  năm trên dương thế!

Hoài Thanh nổi tiếng với loạt bài tranh luận văn chương ở tuổi 27 và viết Thi nhân Việt Nam khi vừa mới ngoài 30 tuổi, cái tuổi có lẽ là thích hợp nhất với người làm phê bình văn học theo kiểu thiên về “duy cảm” như ông.

Tuy nhiên, một nhận xét như trên cũng  không hẳn đúng, bởi sau này, khi đã ngoài “ngũ thập tri thiên mệnh”, rồi lục thập…, Hoài Thanh vẫn có những trang phê bình thơ tinh tế, sâu sắc về thi ca cổ điển của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Huy Tự…, về các nhà thơ trẻ mới xuất hiện như Giang Nam, Thanh Hải, Lê Anh Xuân, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Lý Phương Liên,  Nguyễn Duy… và nhất là về cuộc đời, sự nghiệp của nhà chí sĩ Phan Bội Châu.

Các bài viết của Hoài Thanh luôn luôn vượt qua một cái “ngưỡng” chất lượng nào đấy; trong ông bên cạnh người viết luôn hiện diện một nhà biên tập - tự biên tập tỉnh táo, khắt khe. Mượn câu nói của Sir Alex Ferguson trong bóng đá, có thể nói về chất lượng khác nhau trong các tác phẩm phê bình của Hoài Thanh: “Phong độ là nhất thời, đẳng cấp là mãi mãi!”.

Ảnh: Minh Trí.
 Ảnh: Minh Trí.

- Người con nào cũng kính trọng và yêu quý cha mình. Tôi biết là anh cũng như thế khi nói và nghĩ về cha anh. Nhưng trong nghiên cứu và phê bình văn học, anh lại là một đồng nghiệp của cha mình, dù là ở thế hệ sau. Từ góc độ khoa học và văn học, anh đánh giá thế nào về những thành tựu của cha mình trong lĩnh vực phê bình văn học?

- Vị trí của Hoài Thanh với tư cách là một trong những nhà phê bình xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX là điều đã được thừa nhận mà không cần đến đánh giá của con cái trong nhà. Phần tôi, chỉ muốn nói thêm rằng, cống hiến đáng quý nhất của ông, theo tôi, là ở chỗ bằng một tình yêu vô tư, bằng tất cả sự tinh tường, tinh tế hiếm thấy, ông đã  tìm ra và  truyền lại cho mọi người  cùng cảm được cái đẹp, cái tình ẩn dưới lớp vỏ ngôn từ tuyệt diệu của thơ văn.

- Anh có bao giờ phải chứng kiến những dằn vặt hay ân hận của nhà phê bình văn học Hoài Thanh khi ông cảm thấy đã có cái gì đó có thể là chưa đúng trong công việc của mình ở quá khứ?

- Cũng có lúc như vậy. Chẳng hạn về cuối đời có lúc ông nghi ngờ sự “tự phê bình” quá mức cần thiết (!) khi nhìn lại cuộc tranh luận về nghệ thuật giữa thập niên 30 thế kỷ trước , hoặc đánh giá quá khắt khe về cuốn Thi nhân Việt Nam (mà vào những ngày cuối đời, ông lại trở về nâng niu trân trọng nó như đứa con tinh thần thân thiết nhất). Suy cho cùng, con người nhiều khi cũng khó vượt được ra ngoài cái gọi là “hạn chế của hoàn cảnh lịch sử”.

- Có ý kiến cho rằng bây giờ chúng ta không có những nhà phê bình văn học đích thực, vì cách giới thiệu các tác phẩm văn học mới hiện nay chủ yếu cũng được tiến hành theo cái gọi là “lợi ích nhóm”. Mà việc này không chỉ phổ biến ở những tác giả thuộc thế hệ trước mà ngay cả ở những người được coi là còn trẻ, đang sung sức. Anh nghĩ thế nào?

- Về cơ bản tôi tán thành nhận xét của anh. Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ, vẫn còn có những nhà phê bình lương thiện và tài năng đấy chứ, anh Hồng Thanh Quang! Cụ thể là những ai, chắc anh cũng có thể nêu tên.

- Bây giờ anh có còn cập nhật tình hình sáng tác văn học của nước mình hay không? Liệu có nguy cơ đang tồn tại và hoành hành cái gọi là “nền văn học kinh tế thị trường”?

- Ở tuổi “thất thập cổ lai hy” của tôi quả là cũng không còn đủ sức, đủ say mê để cập nhật tình hình sáng tác văn học nước mình, nhưng cũng có thể cảm nhận cái gọi là nguy cơ “văn học thị trường”, khi mà không ít tác phẩm chạy theo thị hiếu dễ dãi - nhiều sex, nhiều bạo lực  và ít tính nhân văn.

- Anh có nhận xét gì về hiện trạng làng văn? Ai là tác giả đương đại mà anh đánh giá cao? Cái gì mà anh không thích trong sáng tác của những nhà văn đang là chủ đạo hiện nay?

- Như đã nói ở trên, tôi không còn nhiều cơ hội để đọc tương đối đầy đủ các cuốn sách mới ra. Thành thử tôi cũng chỉ hay chú ý đọc những tác giả mà mình đã ưa thích từ trước. Các nhà văn theo tôi vẫn giữ được phong độ từ bao năm nay là Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Anh Thái.  Tôi không nghĩ rằng ở tuổi của mình những nhà văn mà tôi yêu thích có thể “lột xác” để thay đổi hoàn toàn cách viết của mình. Mà có cần họ phải thay đổi như thế không? Vì như ai đó đã nói: “Suy cho cùng, suốt đời mình, nhà văn chỉ viết một cuốn sách duy nhất”…

- Theo anh ở ta bây giờ, văn học còn có vai trò như nó đã từng có trong những thập niên trước, đặc biệt là trong giai đoạn mà chúng ta đã tiến hành cuộc chiến tranh chống xâm lược, thống nhất đất nước?

-  Con tạo xoay vần, thế giới biến thiên, văn học trong hoàn cảnh bùng nổ dữ dội của các phương tiện truyền thông cũng không thể giữ được vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội như trước đây vài thập niên khi mà các cuốn sách như Thơ của Tố Hữu, Sống như Anh của Trần Đình Vân, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi… được in hàng vạn bản và được truyền tay nhau đọc. Bây giờ văn hóa đọc đang bị giảm sút, mỗi đầu sách văn học thường chỉ dừng lại ở con số  nhỏ nhoi 1 - 2 ngàn cuốn, quá nhỏ nhoi so với số dân xấp xỉ 90 triệu của cả dải đất hình chữ S bên Biển Đông.

- Nói thật, tôi không bao giờ đánh giá thấp vai trò của văn học và của các nhà văn nói chung. Nhưng tôi cũng không bao giờ muốn quá đề cao vai trò của văn học và các nhà văn. Và điều này có lý do của nó. Hồi trẻ, tôi đã đọc và rất mê các tác phẩm của nhà thơ Dagestan, Rasul Gamzatov. Và qua thơ cũng như văn của ông, tôi đã rất yêu xứ sở núi đồi Dagestan. Tôi cứ nghĩ đó là quê hương của hòa bình và thân thiện. Thế nhưng sau khi cải tổ thất bại và Liên bang Xôviết tan rã, Dagestan nói riêng và cả vùng Cápcadơ nói chung đã trở thành những điểm nóng đẫm máu nhất. Hóa ra, sự anh minh và tâm hồn thánh thiện của thi sĩ cũng không thể cứu rỗi được quê hương mình. Hóa ra thiện tâm của nhà văn cũng không thể nào thay đổi được bản tính dã man của nhân loại. Liệu tôi có quá bi quan hay không?

- Cũng như anh, tôi rất yêu R. Gamzatov và gần gũi với xứ sở Dagestan kỳ thú của nhà thơ… Anh đã nêu lên thực trạng đau lòng mà ai cũng phải thừa nhận. Nhưng tôi thấy anh không bi quan quá đâu. Tôi cũng nghĩ như anh. Văn học dù có tác động xã hội lớn đến thế nào, nó cũng không thể gánh vác nổi những kỳ vọng nặng nề mà các con chữ mảnh mai không thể nào gánh vác!

Nhà văn Colombia nổi tiếng G.Garcia Marquez đã từng nói: “Ai cũng biết ở Nam Mỹ tồn tại rất nhiều nhà độc tài, nhưng thử hỏi đã có ngọn bút nhà văn nào lật đổ được một chế độ độc tài nào chưa!?”. Nói như F. Dostoievsky: “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới này!”, cũng chỉ là thể hiện một ước muốn cháy bỏng rất ít tính thực tế của nhiều người trong chúng ta mà thôi.

- Theo anh, vị trí của nhà văn Việt Nam hiện nay trong xã hội có thể được đánh giá như thế nào? Vì sao?

- Theo tôi, vị trí này không cao lắm. Một phần do xã hội hiện nay có nhiều giá trị khác được coi trọng hơn, và thêm nữa, tự các nhà văn thực ra cũng chưa làm được nhiều điều tốt đẹp như mọi người kỳ vọng.

- Tôi có cảm giác rằng, hiện nay không chỉ riêng nhà văn mà nhìn chung, toàn bộ lớp trí thức của chúng ta cũng không ở vị trí mà họ từng có trong giai đoạn trước? Vì sao?

- Đúng vậy. Vì sao ư? Vì những người ở vị trí có thể phát huy thế mạnh vốn có của trí thức, do bận bịu nhiều mối lo khác nên không dành nhiều thời gian khai thác(?) giá trị vô hình mà vô giá của giới trí thức. Và vì từ phía các nhà trí thức cũng chưa bộc lộ được đầy đủ  và thuyết phục giá trị tiềm ẩn (nếu có!) của mình.

- Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách… Nhưng liệu các trí giả có nên cổ xúy cho những tư tưởng làm mất ổn định xã hội hay không?

- Chẳng ai có thể cổ xúy cho những tư tưởng làm mất ổn định xã hội cả.  Cái rất khó ở đây là làm sao xác định, chỉ ra đích xác, đích danh tư tưởng nào có thể làm mất ổn định xã hội, dưới góc nhìn nào, từ quyền lợi của ai…

- Làm thế nào để có được một tinh thần trí thức đích thực? Và cái tinh thần trí thức đích thực ấy có thể được xác định như thế nào?

- Tinh thần trí thức đích thực là trong mọi suy nghĩ hành động phải đặt quyền lợi của quốc gia, của dân tộc lên trên lợi ích phe nhóm, lợi ích cá nhân. Chỉ có thể căn cứ vào lời nói, việc làm, hiệu quả khách quan mà xác định được tinh thần trí thức ấy chân chính hay không.

- Tôi nghĩ rằng, nếu là một trí thức đích thực thì không được cực đoan. Không được xu thời… Trí thức thì lại càng không nên có thái độ không ăn được thì đạp đổ. Anh nghĩ thế nào?

- Tôi cũng nghĩ như anh: Cực đoan, xu thời, không ăn thì đạp đổ hay trùm chăn theo “chủ nghĩa Mackeno”… đều là cách hành xử của kẻ tiểu nhân.

- Liệu một trí thức có thể đi cố xúy cho tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan không? Liệu họ có thể tuyên truyền cho một tinh thần phủ nhận cả một quốc gia, một dân tộc khác hay không?

-  Câu hỏi của anh chỉ có thể có một câu trả lời: Không ai và không bao giờ được như thế!

- Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy. Có ý kiến cho rằng, thực trạng không mấy vui vẻ trong làng trí thức nước ta hiện nay phải chăng chỉ là hệ quả của cả một quá trình xây dựng đội ngũ trí thức mới mà chúng ta đã bắt đầu từ hơn nửa thế kỷ trước. Có đúng vậy không, thưa anh?

- Đúng như anh đã gợi ý. Trên đời này “Gieo gì gặt nấy”, không có gì tự nhiên sinh ra  từ “cái-không-có-gì”!

- Theo anh, đâu là những khiếm khuyết trong hệ thống giáo dục của ta? Tôi cũng xin nói thực là tôi không tin những lý lẽ của một số vị trong làng giáo dục, đặc biệt là những gì coi giáo dục như một lĩnh vực thương mại, khi họ phê phán hết lời hệ thống giáo dục mà chúng ta từng có trong thời bao cấp. Nói thật, tôi cũng là một sản phẩm của hệ thống giáo dục đó và tôi không cảm thấy mình là một “phế phẩm”. Tất nhiên, tôi cũng biết là mình có những lỗ hổng nhưng tôi không tin rằng, hệ thống giáo dục đã đào tạo nên những người như chúng tôi lại là một hệ thống yếu kém toàn phần như một số nhà “học giả” tự xưng mình là cấp tiến muốn mô tả.

- Đúng như anh nói. Không thể phủ nhận những gì là tốt đẹp hiển nhiên của giáo dục mà anh, tôi và nhiều người khác nữa đều là sản phẩm dù là chưa thể hoàn chỉnh! Tất nhiên hệ thống giáo dục cũ cũng còn nhiều khiếm khuyết. Những khiếm khuyết này ngày càng bộc lộ rõ hơn khi thời đại mới đặt ra những yêu cầu đổi thay mới. Đó là xu thế tất yếu của sự phát triển. Thay đổi thế nào để có thể  xây đắp cho bền vững, cho chắc chắn cái nền tảng nhân văn - dân chủ - dân tộc - hiện đại của giáo dục.

- Bây giờ chúng ta có thể làm gì để khắc phục những điểm yếu của hệ thống giáo dục hiện nay? Và liệu có thể khắc phục được không?

-  Theo tôi, trước tiên cần sự quan tâm trực tiếp, sự vào cuộc của những người có trách nhiệm và quyền hạn cao nhất trong xã hội ta để tập hợp được những người có tài trí, tâm huyết với sự thay đổi căn bản, toàn diện  thực trạng giáo dục.  Thay đổi về triết lý giáo dục, về hệ thống quản lý vận hành, về chất lượng đội ngũ thầy cô giáo, về cách nhìn nhận đối xử với các em học sinh - sinh viên, về chương trình và sách giáo khoa, về phương pháp dạy và học…

- Tác giả cổ điển Nga nổi tiếng Kuzma Prutrkov từng nói: Hãy nhìn vào gốc rễ! Vậy đâu là căn nguyên những điểm yếu cốt tử của nền giáo dục Việt Nam hiện đại?

- Căn nguyên những điểm yếu cốt tử của giáo dục  như đã nhắc sơ qua ở trên theo tôi là ở chỗ chúng ta đã chậm thay đổi khi hiện thực đất nước ta, hiện thực thế giới chung quanh đã thay đổi một cách cơ bản, từ đó mà chưa có sự điều chỉnh kịp thời để đáp ứng với hoàn cảnh mới.

- Anh có tin rằng chúng ta sẽ tìm ra những phương thức hữu hiệu để chống lại nạn sùng bái bằng cấp hay không?

- Tôi tin rằng nếu chúng ta có sự thay đổi triệt để trong công tác tổ chức cán bộ theo hướng dân chủ hóa, công khai hóa thì nạn sùng bái bằng cấp có thể được xóa bỏ. Trong tình trạng tù mù về đánh giá, bố trí cán bộ thì bằng cấp sẽ chỉ là cái cớ để hợp thức hóa những ý đồ trục lợi trong sắp xếp ông này bà nọ vào chức nọ chức kia (mà như một “bí mật”(!) không ai không biết là hầu như chức nào cũng có giá của nó !).

- Theo anh, liệu có đúng không khi một số người nói rằng, phẩm hạnh của con người Việt Nam hiện nay đang bị suy thoái, vì chúng ta đã không được chuẩn bị chu tất cho một cuộc sống ở trong cơ chế thị trường?

- Theo tôi, khó có thể chuẩn bị chu tất cho một cuộc sống trong cơ chế thị trường. Chỉ có điều để kìm hãm sự suy thoái phẩm hạnh    của con người thì ở tầm rộng lớn, bao quát nhất cần phải nỗ lực chuyên tâm xây dựng cho được “bộ ba” Nhà nước pháp quyền - Kinh tế thị trường văn minh và Xã hội dân sự lành mạnh.

- Có một sự thực là, bên cạnh không ít những mặt tích cực, trong xã hội ta hiện nay đang xuất hiện khá nhiều những chuyện đồi phong bại tục… Không phải vì tôi làm báo trong lực lượng Công an và phải tiếp cận với nhiều tin tức hình sự mà tôi nói thế đâu. Anh có thể lý giải được sự xuống dốc về đạo đức ở một bộ phận không nhỏ trong xã hội chúng ta được không?

- Tôi tạm tự tìm kiếm cho mình lời giải về cái sự mà anh gọi là “xuống dốc đạo đức ở một bộ phận không nhỏ trong xã hội chúng ta” như thế này, anh xem có trúng ý anh không nhé.  Chính sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một “bộ phận không nhỏ” đảng viên có chức quyền - như NQ TW 4, khóa XI năm ngoái đã chỉ ra là căn nguyên đầu tiên và cơ bản nhất dẫn đến sự xuống cấp đạo đức của toàn xã hội ta hiện nay mà không ai không nhận thấy và hết sức ưu tư.

- Có ý kiến cho rằng, chính các phương tiện truyền thông cũng có lỗi trong việc khiến tình trạng phạm tội lan tỏa nhanh và rộng như thế. Anh nghĩ thế nào?

-  Anh nói quá đúng. Các phương tiện truyền thông, vô tình hay cố ý(?), vì để thu hút khách chẳng hạn hay vì để lảng tránh(?) những vấn đề hệ trọng nhưng lại có phần “nhạy cảm”(!), nhiều khi đã quá mẫn cán  tỷ mỷ đưa tin những hành vi bạo lực ghê tởm vô luân góp phần “quảng bá”, nuôi dưỡng tâm lý “bình thường hóa”, “vô cảm hóa” của xã hội đối với những tội ác kinh sợ đó.

- Không có ác thì không có thiện. Ác luôn đi kèm với thiện… Phải chăng chúng ta nên chấp nhận hiện thực như đang xảy ra?

-  Có thể là như vậy. Nhưng dù thế nào, tôi vẫn nghĩ rằng, chúng ta không thể chấp nhận một hiện thực phũ phàng như thế; nhân loại không thể đi vào con đường tự sát về mặt đạo đức. Cái Ác phải dần ít đi, cái Thiện trước sau phải đến lúc lên ngôi. Không thể nào khác - tôi tin như thế!

- Tôi biết là thử nghiệm về một xã hội muốn hoàn toàn nhân văn như đã diễn ra ở Liên Xô đã bị thất bại. Nhưng tôi cũng không tin rằng cách phát triển hiện nay của xã hội loài người lại là hoàn hảo. Liệu nhân loại còn có con đường phát triển nào khác nữa không, thưa anh?

- Trong cách phát triển của xã hội loài người hiện nay, theo tôi, không phải là không có điểm sáng. Dù chưa có và khó có thể có ngay một hình mẫu xã hội hoàn hảo trên thế giới này hôm nay. Nhưng theo tôi vẫn có thể nhận ra mô hình cho một xã hội như thế cho mai sau. Đó là hướng tới nỗ lực thiết lập một xã hội với thế “chân vạc - kiềng 3 chân” - với “bộ ba” như tôi đã nhắc qua ở đoạn trên: Một Nhà nước pháp quyền để đem lại Tự do - Dân chủ - Kỷ cương, một nền Kinh tế thị trường để bảo đảm cuộc sống sung túc, một Xã hội dân sự để mọi người được hưởng Công bằng, Văn minh.

- Xin cảm ơn anh!

H.T.Q.

Các tin khác

Đi chênh vênh giữa tin đồn và sự thật

Đi chênh vênh giữa tin đồn và sự thật

Người ngoài nghề thường nghĩ phóng viên mảng nội chính - pháp luật là những người thích nghe chuyện án mạng. Nghĩ thế cũng không sai hẳn. Nhưng, đi lâu mới biết thứ giữ chân họ lâu nhất không phải hung thủ, cũng không phải bản án. Mà là những chi tiết nằm ngoài hồ sơ, những mảnh vụn sự thật vẫn còn ấm hơi người mà không một văn bản tố tụng nào chịu ghi lại.

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Nhiều năm sau khi không còn xuất hiện đều đặn trên sóng truyền hình, Đại tá Nguyễn Thị Mai Thao - Phó giám đốc Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) vẫn gặp những người nhận ra mình chỉ bằng giọng nói.

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.