GS. Nguyễn Hồng Phong - người Thầy của tôi

Tôi có chút thành công gì trong điện ảnh cho tới nay cũng do được cậu tôi sớm định hướng từ đầu theo chiều hướng đó. Chính ông là người đã trang bị để tôi có được một cách nhìn sự vật của riêng mình để rồi từ đó làm công việc sáng tác.

Đầu năm 2005, Hội Sử học Việt Nam tổ chức tại Hà Nội một hội thảo nhân kỷ niệm 75 năm ngày sinh cố GS Nguyễn Hồng Phong, đồng thời ra mắt tuyển tập những công trình nghiên cứ khoa học xã hội và nhân văn của ông. Với tôi, GS không chỉ là một học giả lớn mà còn là người thầy với ý nghĩa đầy đủ nhất của từ này.

Con người của học thuật

Giáo sư Nguyễn Hồng Phong tên thật là Trịnh Công Hồng, sinh trưởng trong một gia đình công chức nghèo ở tỉnh Hà Nam . Cuối năm 1948 sau khi học xong trung học phổ thông, ông trở thành hội viên Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Liên khu I. Sau một thời gian làm công tác truyền bá, giảng dạy về chính trị và triết học, năm 1956, ông chuyển về công tác tại Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, tiền thân của Viện Sử học, Viện Văn học và Viện Khoa học xã hội ngày nay. Trong những năm đầu công tác tại đây, ông đã cùng các GS. Văn Tân, Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh biên soạn bộ Sơ thảo lịch sử Văn học Việt Nam gồm 5 tập, đặt nền móng cho việc nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam.

Là người sớm quan tâm và coi trọng những giá trị truyền thống của dân tộc, GS. Nguyễn Hồng Phong đã nghiên cứu và công bố nhiều công trình khoa học có giá trị như: Truyện tiếu lâm Việt Nam: lý luận và tuyển tập, Xã thôn Việt Nam , Tìm hiểu tính cách dân tộc. Cuốn Xã thôn Việt Nam của ông xuất bản năm 1959 là tác phẩm đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về nông thôn Việt Nam dưới góc độ sử học và dân tộc học. Cuốn sách đã gây tiếng vang trong giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn trong và ngoài nước bởi tính sáng tạo, mới mẻ trong cách tiếp cận những vấn đề của nông thôn Việt Nam, đưa ra một cách nhìn mới trong việc tìm hiểu đặc điểm của xã hội phương Đông cổ đại nói chung cũng như xã hội Việt Nam nói riêng. Đó là sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn, là những dấu vết của tổ chức xã hội nguyên thủy, của công xã thị tộc và công xã nông thôn thể hiện qua cơ sở kinh tế, các tổ chức xã hội, ý thức tư tưởng và các hoạt động văn hóa.

Năm 1963, GS cho ra đời cuốn Tìm hiểu tính cách dân tộc, trong đó ông trình bày những khảo cứu của mình về những đặc điểm tính cách dân tộc Việt Nam thông qua văn học nghệ thuật và trong đời sống. Cuốn sách có sức thu hút rất lớn không chỉ đối với những nhà sử học, xã hội học mà cả giới nghiên cứu văn học nghệ thuật.

Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, GS. Nguyễn Hồng Phong dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu về các vấn đề văn hóa, văn minh và phát triển. Ông là người đề xuất và là chủ nhiệm, đồng thời là một trong những người thực hiện trực tiếp chương trình khoa học cấp nhà nước: Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội, gồm 17 đề tài. Sau khi ông qua đời, Viện Sử học còn cho công bố hai cuốn sách di cảo của ông: Văn hóa Chính trị Việt Nam - truyền thống và hiện đại, và cuốn Một số vấn đề về hình thái kinh tế xã hội, văn hóa và phát triển. Những bài viết trong hai cuốn sách này là những suy nghĩ của ông về việc tìm kiếm một con đường phát triển của Việt Nam . Trong cuộc tìm kiếm ấy ông khẳng định: “Một xã hội không thể mượn ở một xã hội khác một mô hình chung về sự phát triển. Mỗi nước phải tìm mô hình và phong cách riêng của nó tùy theo các nguồn gốc mà nó có, các nhu cầu mà nó nhận thấy, các đặc điểm của nền văn hóa của nó”.

Là Viện trưởng Viện Sử học, GS. Nguyễn Hồng Phong cập nhật rất nhanh những thành tựu nghiên cứu trên thế giới trong lĩnh vực khoa học xã hội rồi thông tin lại cho anh chị em trong Viện, gợi mở những vấn đề cần nghiên cứu không giữ riêng cho mình. Ông luôn chấp nhận sự đa nguyên trong nghiên cứu khoa học và đó là điều mà GS. Hoàng Ngọc Hiến cho là dễ chịu nhất khi làm việc với ông.

GS. Nguyễn Hồng Phong còn là một nhà văn hóa. Trong con người ông là một kho kiến thức uyên bác về nhiều lĩnh vực: triết học, mỹ học, văn học, thơ ca, hội họa. Những bài giảng của ông tại các trường nghệ thuật thực sự đã làm say mê biết bao thế hệ sinh viên…

Cậu tôi, cũng là thầy tôi

Tôi đến với điện ảnh bằng những sự tình cờ run rủi của số phận, không hề có sự chuẩn bị gì từ trước. Gia đình tôi toàn những người làm ngành y và dạy học. Trong tất cả những người thân ấy chỉ có một người am hiểu lĩnh vực văn học nghệ thuật là cậu tôi: GS. Nguyễn Hồng Phong - chồng của bà Nguyễn Thị Ngọc Trai, em mẹ tôi. Có một người thân như vậy trong gia đình thực sự là một may mắn đối với tôi khi quyết định dấn thân vào con đường nghệ thuật.

Cha tôi là GS, bác sĩ Đặng Văn Ngữ, suốt ngày miệt mài trong phòng thí nghiệm bên chiếc kính hiển vi, ông chẳng có thể giúp gì cho tôi trong quyết định hệ trọng này. Đầu năm 1967, trước khi lên đường vào chiến trường Trị - Thiên, ông gửi gắm tôi cho người em cọc chèo của mình, người mà ông gần gũi thân tình nhất trong gia đình. Từ đó, GS. Nguyễn Hồng Phong trở thành người thầy của tôi theo đúng nghĩa của nó.--PageBreak--

Tôi nhớ lại những bài học đầu tiên ông dạy cho tôi, là những bài giảng về triết học (đây là lĩnh vực ông coi trọng nhất). Ông đưa cho tôi đọc rất nhiều tài liệu có liên quan đến triết học, mỹ học Marx, kể cả của những trường phái triết học phương Tây. Tôi biết đến Freud, Hegel, Garaudy,  Fitcher…   rất sớm là cũng nhờ ông cung cấp cho đọc. Đọc xong đến đâu, ông giảng giải phân tích cho tôi cặn kẽ. Những buổi “lên lớp” như vậy thường diễn ra sau những bữa ăn (một dạo ngày hai buổi, tôi ăn cơm tại nhà ông sau khi đã đưa vợ con đi sơ tán về nông thôn. Đó là những ngày báo động liên miên trong thành phố).

Những buổi học như vậy không có giáo trình, giáo án (hay nếu có thì có lẽ được ông sắp xếp sẵn trong đầu) và người theo học là tôi, chỉ nghe mà không ghi chép. Cậu tôi có một cách nói thật sâu sắc mà giản dị, sáng rõ, có sức lôi cuốn kỳ lạ. Ai đã được nghe ông thuyết trình dù chỉ một lần thôi đều bị mê hoặc như thôi miên. Những lúc thụ học với ông sau những bữa ăn như vậy tại ngôi nhà số 6 Lý Thường Kiệt, tôi có cảm tưởng như mình là một đệ tử đang tầm sư học đạo theo lối giáo dục truyền thống của người xưa. Cái lối dạy truyền khẩu và học nhập tâm ấy đã cho tôi biết bao kiến thức cần thiết. Chúng đi vào tâm thức của tôi lúc nào không hay.

Sau khi đã trang bị xong cho tôi một số kiến thức cơ bản về triết học, mỹ học, ông bắt tôi đọc sách: tiểu thuyết, thơ, văn kể cả kho tàng ca dao, tục ngữ. Ông giảng giải cho tôi về những trào lưu văn học hiện đại của phương Tây, những trường phái hội họa trên thế giới (ông có viết một cuốn sách về Picasso). Đặc biệt ông hướng sự quan tâm của tôi vào kho tàng văn hóa dân tộc qua thơ văn của các tác giả cổ điển trong nước, qua ca dao, tục ngữ (đến bây giờ tôi vẫn cho rằng, bài viết của ông về Hồ Xuân Hương có lẽ không ai có thể viết hay hơn). Không chỉ giới hạn trong những kiến thức trên, ông còn cho tôi được tiếp cận rất sớm với nền văn học sáng tác trong vùng tạm chiếm ở miền Nam qua các tạp chí Văn, Bách khoa; những tiểu thuyết, ấn phẩm được cung cấp để cơ quan ông nghiên cứu và chỉ được lưu hành trong nội bộ. Do vậy sau khi hai miền thống nhất, vào Nam tiếp xúc với các văn nghệ sĩ trong ấy, tôi chẳng có gì bỡ ngỡ.

Bằng văn học, thơ ca, bằng những hình tượng trong ca dao, bằng những phân tích về hội họa, ông đã tập cho tôi cách tư duy bằng hình ảnh, một phẩm chất không thể thiếu của người làm điện ảnh. Đạo diễn Fellini, người Italia, nói: “Đạo diễn không phải là một nghề. Đó là một cách nhìn đời, một nhân sinh quan”. Càng ngày tôi càng thấm thía câu nói đó. Thật vậy, người đạo diễn không phải là người có trong tay một mớ thủ pháp rồi hành nghề. Cái hành trang quan trọng nhất khi bước vào nghề này là cái nhân sinh quan, cái cảm quan thẩm mỹ của riêng anh. Không có cái đó, người đạo diễn chỉ là một người thợ (thợ khéo hay thợ vụng).

Tôi từng được chứng kiến nhiều cuộc đàm đạo tại nhà cậu tôi giữa ông và các bạn bè: GS. Vũ Khiêu, GS. Đình Quang, nhà nghiên cứu Hán Nôm Vũ Hoàng Địch, nhà văn Nguyễn Tuân, nhà điêu khắc Diệp Minh Châuv.v... những người bạn tâm đắc của ông. Giá như có ai ghi lại tất cả những điều ông nói trong các cuộc trò chuyện đó, hệ thống chúng lại, có thể trở thành những cuốn sách rất hay, rất bổ ích. Đó là điều khi nhớ về ông, cảm thấy rất tiếc…

Tại Hội thảo, nhiều người đã phát hiện nhiều khía cạnh đa dạng trong con người khoa học của GS. Nguyễn Hồng Phong. Theo GS. Phan Huy Lê thì Nguyễn Hồng Phong đã đưa Triết học đến gần với Sử học hay như GS. Phong Lê nói, ông đã đưa chất thơ vào Sử học, bôi trơn cho lĩnh vực này làm cho nó trở nên mềm mại hấp dẫn hơn. GS. Vũ Khiêu có nhận xét rằng, ở Việt Nam tuy không có triết gia, nhưng Văn - Sử - Triết bất phân. Các nhà thơ lớn của Việt Nam đều là những triết gia: Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Du với Truyện Kiều... đầy những suy nghĩ triết học. Có lẽ Nguyễn Hồng Phong đã vận dụng được đặc điểm này để làm điểm tựa cho phương pháp luận của mình trong nghiên cứu khoa học. Uyên bác và tài hoa là hai phẩm chất nổi trội trong con người ông.

Là một người trọn đời chỉ quan tâm đến những vấn đề của khoa học xã hội nhân văn, về con đường đi và sự phát triển của đất nước, con người Nguyễn Hồng Phong như PGS. Vũ Hoàng Địch mô tả: “Luôn giữ một khoảng cách nào đó với cuộc đời, không bon chen vào những cái tầm thường....”. Và như GS. Vũ Khiêu, người bạn thân nhất của ông từng nhận xét: “Ông không bao giờ tự làm người ta hiểu mình”. Phải chăng đó là phẩm chất của những con người đã đạt đến chữ Đạo?

Riêng với tôi, ông là người đầu tiên đã dẫn dắt tôi đi vào con đường nghệ thuật. Nhiều người thường ngạc nhiên khi biết tôi không được đào tạo qua trường lớp nào về điện ảnh. Nhưng như người xưa thường nói: “Không thầy đố mày làm nên”. Người thầy của tôi chính là cậu tôi - GS Nguyễn Hồng Phong

Các tin khác

Đi chênh vênh giữa tin đồn và sự thật

Đi chênh vênh giữa tin đồn và sự thật

Người ngoài nghề thường nghĩ phóng viên mảng nội chính - pháp luật là những người thích nghe chuyện án mạng. Nghĩ thế cũng không sai hẳn. Nhưng, đi lâu mới biết thứ giữ chân họ lâu nhất không phải hung thủ, cũng không phải bản án. Mà là những chi tiết nằm ngoài hồ sơ, những mảnh vụn sự thật vẫn còn ấm hơi người mà không một văn bản tố tụng nào chịu ghi lại.

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Nhiều năm sau khi không còn xuất hiện đều đặn trên sóng truyền hình, Đại tá Nguyễn Thị Mai Thao - Phó giám đốc Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) vẫn gặp những người nhận ra mình chỉ bằng giọng nói.

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.