Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN gồm 2 điều trong đó điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN năm 2017 (sửa đổi, bổ sung 33 điều, bãi bỏ 2 điều) và điều 2 là điều khoản thi hành.
Dự thảo Luật tập trung vào 6 nhóm nội dung lớn. Cụ thể, về nguyên tắc, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, dự thảo Luật quy định theo hướng: Quy định cụ thể TNBTCNN trong trường hợp chưa được quy định tại luật nào hoặc có quy định nhưng dẫn chiếu tới Luật TNBTCNN. Đối với các luật có quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường cụ thể thì áp dụng luật đó khi xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Việc sửa đổi, bổ sung như vậy sẽ bảo đảm tính ổn định của luật; tạo ra sự linh hoạt và xử lý được xung đột về vấn đề phạm vi TNBTCNN giữa các luật với luật này và đồng thời tránh được việc một luật sửa nhiều luật hay nhiều luật sửa một luật.
Trên cơ sở nguyên tắc trên, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung phạm vi TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính với 2 nội dung: Bổ sung trách nhiệm của nhà nước trong việc bồi thường khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng các biện pháp để bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc người thân; sửa đổi phạm vi TNBTCNN trong việc bảo vệ người tố cáo và trong hoạt động quản lý thuế theo hướng dẫn chiếu để phù hợp với quy định của luật chuyên ngành.
Về cơ quan giải quyết bồi thường, dự thảo Luật đã sửa đổi khoản 2 và khoản 4 Điều 4 của Luật TNBTCNN theo hướng người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự có quyền yêu cầu cơ quan quản lý người thi hành công vụ giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại tòa án. Việc sửa đổi, bổ sung này nhằm bảo đảm sự bình đẳng, công bằng so với các cơ chế giải quyết bồi thường ở lĩnh vực khác.
Dự thảo Luật bổ sung vào khoản 6 Điều 33 Luật TNBTCNN quy định “Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định của Luật Tố cáo và pháp luật khác có liên quan” là cơ quan giải quyết bồi thường để phù hợp với việc bổ sung phạm vi TNBTCNN tại khoản 6 Điều 17 dự thảo Luật.
Đồng thời, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 33 như sau: “Cục và tương đương thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; cơ quan của trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương có tư cách pháp nhân là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình”. Việc sửa đổi này để phù hợp với việc sắp xếp tổ chức bộ máy, nhất là đối với những cơ quan được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương xuống địa phương.
Về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các Điều 41, 42, 43, 45 và 46 Luật TNBTCNN theo hướng cắt giảm thành phần hồ sơ yêu cầu bồi thường dựa trên dữ liệu, cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính (từ 66 ngày xuống còn 31 ngày đối với vụ việc bình thường và từ 88 ngày xuống còn 43 ngày đối với vụ việc phức tạp) đảm bảo phù hợp với chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường.
Dự thảo Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung về hồ sơ yêu cầu bồi thường, cách thức tiếp nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường và việc xử lý hồ sơ, thương lượng việc bồi thường… để bảo đảm tính ổn định của luật.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy định về ra quyết định giải quyết bồi thường theo hướng: Quyết định giải quyết bồi thường được ban hành trong mọi trường hợp (kể cả thương lượng thành hay thương lượng không thành), đồng thời quy định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của quyết định là sau 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường và tương ứng với đó là thời hiệu của quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết bồi thường cũng là 60 ngày kể từ ngày nhận được quyết định (theo Luật hiện hành thì thời hạn này là 15 ngày). Đồng thời bổ sung quy định người yêu cầu bồi thường và cơ quan giải quyết bồi thường có quyền thỏa thuận quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sớm hơn và được ghi rõ trong biên bản thương lượng.
Việc sửa đổi các quy định này nhằm thể hiện trách nhiệm đến cùng của cơ quan hành chính (cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại) và bảo đảm tốt hơn quyền của người yêu cầu bồi thường.
Về kinh phí bồi thường, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung Điều 60, Điều 61 và Điều 62 Luật TNBTCNN theo hướng cơ quan giải quyết bồi thường ở cấp nào thì ngân sách cấp đó cấp kinh phí; bổ sung quy định về kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và quy định đối với kinh phí cho công tác quản lý nhà nước. Hằng năm, căn cứ thực tế kinh phí của năm trước, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Đối với kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sử dụng kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước đã được giao để chi trả theo quy định tại Điều 62 của Luật này. Đồng thời, dự thảo Luật cũng đã sửa đổi, bổ sung để cải cách, rút ngắn thời hạn thực hiện thủ tục chi trả tiền bồi thường.
Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, dự thảo Luật đã bổ sung khoản 4a Điều 65 để quy định việc miễn trách nhiệm hoàn trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý trong một số trường hợp và bổ sung khoản 2a Điều 66 Luật TNBTCNN quy định về trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp không xác định được đầy đủ các thông tin về người thi hành công vụ gây thiệt hại.
Về quản lý nhà nước đối với công tác bồi thường nhà nước, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung Điều 73 Luật TNBTCNN theo hướng quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và quy định một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Bộ Tư pháp và UBND cấp tỉnh; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước. Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm phối hợp trong thực hiện quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sẽ giao Chính phủ quy định.
Bên cạnh những nội dung sửa đổi, bổ sung lớn như trên, dự thảo Luật cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 Luật Phòng, chống tham nhũng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 132/2025/QH15 và quy định về chuyển tiếp để đảm bảo việc áp dụng thống nhất khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành.