Theo báo cáo của UBND TP Hồ Chí Minh, thành phố dự kiến sắp xếp hệ thống đơn vị sự nghiệp giáo dục từ 278 đơn vị xuống còn 256 đơn vị, giảm 22 đầu mối. Thành phố chủ trương giữ ổn định các trường phổ thông và mầm non công lập để bảo đảm nhu cầu học tập của người dân. Trong tổng số 278 đơn vị hiện có, sẽ giữ nguyên 198 đơn vị, gồm 170 trường THPT và trường phổ thông nhiều cấp học, 3 trường mầm non công lập, 22 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập và trường giáo dục chuyên biệt, cùng một số trung tâm phục vụ nhiệm vụ chuyên môn đặc thù.
Trọng tâm của quá trình sắp xếp tập trung vào khối giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Theo đó, 39 trường đại học, cao đẳng và trung cấp công lập sẽ được tổ chức lại thành 20 trường đại học, cao đẳng và 1 trường trung cấp, giảm 18 đơn vị. Việc sáp nhập được thực hiện theo nguyên tắc các trường có ngành nghề đào tạo tương đồng, quy mô tuyển sinh thấp hoặc đóng trên cùng địa bàn sẽ được hợp nhất nhằm tập trung nguồn lực đầu tư, tránh dàn trải.
Thành phố cũng dự kiến chuyển đổi 41 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thành 37 trường trung học nghề, giảm thêm 4 đầu mối. Đây được xem là bước đi nhằm hình thành hệ thống đào tạo nghề liên thông, gắn chặt hơn với nhu cầu thị trường lao động và chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố trong giai đoạn mới.
Đối với các trường đại học trực thuộc UBND TP Hồ Chí Minh, phương án sắp xếp hiện nay hướng tới hình thành ba cơ sở đào tạo nòng cốt gồm Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Thủ Dầu Một và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Trong đó, Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu dự kiến được sáp nhập vào Trường Đại học Sài Gòn nhằm tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực đào tạo giáo viên.
Song song với việc tinh gọn đầu mối, thành phố vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng mạng lưới trường lớp. Chỉ riêng trong năm 2026, thành phố đã thành lập mới 5 trường công lập, gồm 4 trường THPT và 1 trường phổ thông liên cấp nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân tại các khu vực phát triển đô thị mới.
Tuy nhiên, chính quy mô sắp xếp lớn cùng việc liên quan trực tiếp đến hàng chục nghìn giáo viên, viên chức và người học đã khiến quá trình triển khai phát sinh nhiều khó khăn.
Một trong những khó khăn lớn nhất là hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến giáo dục nghề nghiệp vẫn đang trong quá trình sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt, mô hình trường trung học nghề - một mắt xích quan trọng trong phương án sắp xếp - đến nay vẫn chưa có đầy đủ hướng dẫn từ Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Việc thiếu cơ sở pháp lý khiến địa phương chưa thể triển khai các bước tiếp theo liên quan đến việc chuyển đổi, thành lập mới hoặc tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Nhiều nội dung về điều lệ hoạt động, mô hình tổ chức, bộ máy quản lý hay cơ chế tuyển sinh vẫn đang chờ quy định chính thức từ cơ quan Trung ương.
Không chỉ vướng về pháp lý, việc sắp xếp các trường cao đẳng và trung cấp còn liên quan trực tiếp đến tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, giáo viên, tài sản công, chương trình đào tạo cũng như quyền lợi của hàng chục nghìn học sinh, sinh viên.
Nếu thực hiện quá nhanh có thể dẫn đến những xáo trộn không mong muốn, ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo và tâm lý của người học. Chính vì vậy, việc xây dựng lộ trình phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu đổi mới và sự ổn định của hệ thống giáo dục là yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan quản lý.
Một khó khăn khác là vấn đề cơ sở vật chất. Thực tế cho thấy một số trường hiện chưa đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích đất và hạ tầng theo quy định. Trong khi đó, quỹ đất công tại TP Hồ Chí Minh ngày càng hạn hẹp, đặc biệt tại các khu vực nội đô.
Việc tìm kiếm quỹ đất để mở rộng hoặc bổ sung cơ sở đào tạo mới đang trở thành bài toán không dễ giải. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch hình thành các cơ sở giáo dục quy mô lớn sau khi sáp nhập.
Đối với ngành y tế đang phải giải quyết bài toán phức tạp hơn liên quan đến nhân lực, cơ chế quản lý và vận hành hệ thống y tế cơ sở sau sắp xếp.
Sau khi hợp nhất và tổ chức lại bộ máy, quy mô ngành y tế TP Hồ Chí Minh tăng lên rất lớn về dân số, diện tích cũng như số lượng cơ sở khám chữa bệnh. Việc kết nối, đồng bộ mô hình hoạt động giữa các đơn vị thuộc ba địa phương trước đây đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn lực.
Theo phương án sắp xếp, 25 trung tâm y tế không có giường bệnh sẽ được giải thể, nguồn lực được chuyển giao về các trạm y tế xã, phường, đặc khu. Đồng thời, 168 trạm y tế cấp xã sẽ trở thành đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp xã.
Đây là mô hình mới, được kỳ vọng tăng cường vai trò của y tế cơ sở trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Tuy nhiên, quá trình triển khai đang bộc lộ nhiều khó khăn.
Trước hết là vấn đề nhân lực và vị trí việc làm. Hiện Bộ Y tế chưa ban hành hướng dẫn cụ thể về định mức số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức, tiêu chuẩn chức danh quản lý đối với trạm y tế theo mô hình mới. Việc thiếu các quy định này khiến địa phương gặp khó trong xây dựng đề án vị trí việc làm, bố trí nhân sự và kiện toàn bộ máy quản lý tại các trạm y tế.
Bên cạnh đó, quy định về xếp hạng trạm y tế cũng chưa được ban hành. Điều này dẫn đến lúng túng trong việc xác định phụ cấp chức vụ đối với ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận chuyên môn, ảnh hưởng đến tâm lý và quyền lợi của đội ngũ cán bộ y tế cơ sở.
Một thực tế khác là nhiều địa phương cấp xã lần đầu trực tiếp quản lý đơn vị sự nghiệp y tế nên còn thiếu kinh nghiệm về quản trị nhân sự, tài chính và tài sản công. Trong khi đó, mô hình mới đòi hỏi chính quyền cơ sở phải có năng lực điều hành cao hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý chuyên môn đặc thù của ngành y.
Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều trạm y tế phải quản lý địa bàn có quy mô dân số lên đến hàng chục nghìn, thậm chí hơn 100.000 người. Trong khi đó, số lượng nhân viên y tế hiện hữu chưa đáp ứng được khối lượng công việc ngày càng gia tăng.
Mô hình hoạt động của trạm y tế hiện nay không chỉ dừng lại ở khám chữa bệnh thông thường mà còn phải thực hiện quản lý sức khỏe toàn dân, y tế dự phòng, tiêm chủng, chăm sóc người cao tuổi, quản lý bệnh không lây nhiễm, hồ sơ sức khỏe điện tử và nhiều nhiệm vụ khác.
Theo tính toán của thành phố, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hệ thống y tế cơ sở cần bổ sung khoảng 1.875 biên chế. Đây là con số rất lớn trong bối cảnh việc tuyển dụng nhân lực y tế vẫn gặp nhiều khó khăn.
Không chỉ thiếu số lượng, ngành y tế còn đối mặt với tình trạng khó thu hút nhân lực ở những lĩnh vực đặc thù như y tế dự phòng, pháp y, tâm thần, hồi sức cấp cứu, giải phẫu bệnh hay cấp cứu ngoại viện.
Các địa bàn vùng ven, biển đảo cũng thường xuyên trong tình trạng thiếu bác sĩ và nhân viên y tế có trình độ cao. Áp lực công việc lớn nhưng chế độ đãi ngộ chưa thực sự hấp dẫn khiến việc tuyển dụng và giữ chân nhân lực gặp nhiều trở ngại.
Song song với đó là những hạn chế về cơ sở vật chất. Nhiều trạm y tế được xây dựng từ nhiều năm trước với diện tích nhỏ hẹp, xuống cấp, không còn phù hợp với yêu cầu hoạt động theo mô hình mới. Một số trang thiết bị đã lạc hậu hoặc hư hỏng nhưng chưa được thay thế kịp thời.
Vướng mắc tài chính cũng là vấn đề đáng chú ý. Việc chuyển giao tài sản, nguồn vốn và nhân sự từ trung tâm y tế sang các trạm y tế diễn ra đúng thời điểm kết thúc năm ngân sách khiến khối lượng công việc rất lớn. Trong khi đó, đội ngũ làm công tác tài chính còn thiếu và biến động nhiều, dẫn đến chậm trễ trong việc lập dự toán và phân bổ kinh phí hoạt động.
Để tháo gỡ những khó khăn trong quá trình sắp xếp, TP Hồ Chí Minh kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm ban hành hướng dẫn về tổ chức, hoạt động của trường trung học nghề và việc sắp xếp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho địa phương triển khai đồng bộ.
Đối với lĩnh vực y tế, thành phố đề nghị Bộ Y tế sớm hoàn thiện các quy định về vị trí việc làm, định mức nhân lực, xếp hạng trạm y tế; đồng thời xem xét bổ sung khoảng 1.875 biên chế cho hệ thống y tế cơ sở và cho phép TP Hồ Chí Minh áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút, giữ chân nhân lực y tế tại tuyến cơ sở, vùng ven và biển đảo.