Tháng 12/1966, Đoàn cơ yếu của lớp B14 Bộ Công an chi viện cho chiến trường Nam Bộ gồm 5 đồng chí, là Phạm Đức Hạnh, Ngô Văn Quý, Nguyễn Văn Tơn, Đặng Thế Điện và Trần Hùng. Ông Hùng nhớ lại: "Ngày đó, cả 5 chúng tôi đều còn rất trẻ, mới mười chín đôi mươi, hừng hực khí thế lên đường để nhận nhiệm vụ".
Sẵn sàng cảm tử…
Tháng 10/1967, ông Trần Hùng được phân công về Tổ cơ yếu Ban An ninh R thuộc Văn phòng An ninh Trung ương Cục miền
1 tháng sau (tức là tháng 12/1967 âm lịch), ông và đồng chí Tư Leo được An ninh Trung ương Cục giao một nhiệm vụ quan trọng: Tháp tùng đồng chí Ngô Quang Nghĩa (Chánh văn phòng Ban An ninh R) đi làm nhiệm vụ ở T4 và các tỉnh Nam Bộ.
Có một kỷ niệm mà cả đời ông Hùng cũng không bao giờ quên được. Lúc đó để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đồng chí Ngô Quang Nghĩa có nhiệm vụ đi phổ biến kế hoạch cho An ninh T4 và các tỉnh Nam Bộ. Toàn bộ kế hoạch đó được viết bằng dung dịch hoá học không màu. Còn mực để quét lên cho ra màu chữ lại được giao cho nhóm cơ yếu của ông giữ.
Cuộc hành trình của các ông rất dài, đi dọc đường Campuchia, lúc vượt sông đến địa phận Lò Gò (thuộc sông Vàm Cỏ Đông) thì bị trực thăng địch phát hiện, vì vậy phải dạt vào bờ. Cũng may có sức trẻ và ai cũng biết bơi nên đã bơi ra giữa sông lặn sâu dưới nước, nhờ vậy mới không bị địch bắt.
5h sáng 27/12 âm lịch, trước Tết Nguyên đán 3 ngày, các ông đã đến được vị trí đóng quân của Ban An ninh T4 (xã An Ninh, Đức Hoà, Long An) do đồng chí Nguyễn Tài (sau là Thứ trưởng Bộ Công an) làm Trưởng ban. Đây là vùng giáp ranh giữa quân địch và quân giải phóng, giữa một cánh rừng chồi bát ngát.
Vừa đến nơi, trời còn nhá nhem tối, bỗng nghe tiếng đổ bộ ầm ầm của hơn 40 trực thăng Mỹ. Ngay tức khắc, đồng chí Nguyễn Tài điều một đồng chí an ninh dẫn 4 đồng chí trong đoàn đi trú ẩn. Nghe tiếng trực thăng, các đồng chí chạy phi nước đại, bởi còn tài liệu quan trọng mang theo.
Vì hầm bí mật nằm ngay cạnh đường nên sợ bị lộ, đồng chí Nghĩa tính đến phương án là đốt hủy tài liệu kế hoạch Tổng tiến công. Nhưng vì không châm được lửa, cuối cùng, các ông dùng tay bới đất để chôn tài liệu.
Và trong tình huống nguy kịch nhất, tất cả đã chuẩn bị sẵn sàng lên nòng AK và lựu đạn nếu bị địch phát hiện thì sẽ sẵn sàng sống chết cùng với số tài liệu. Nhưng cũng may lính trực thăng đổ bộ lúc đó toàn là lính Mỹ không có kinh nghiệm, còn nếu là quân đội Sài Gòn chúng sẽ dùng thanh thép xục xạo thì chắc các ông đã hy sinh hết rồi.
Hơn 6h chiều quân Mỹ đã rút, 12 tiếng dưới dấu giày của quân địch, các ông vẫn giữ gìn được số tài liệu an toàn và phổ biến kế hoạch cho toàn khu T4 kịp thời. Cũng trong đêm đó, các ông đến cơ sở của nhà dân ở thị trấn Thanh An - Bến Cát, trụ sở An ninh Phân khu 1 do đồng chí Năm Tấn làm Trưởng ban.
Đến đây các ông mới thực sự biết được không khí chuẩn bị đón Tết cũng như khí thế sẵn sàng tham gia chiến dịch Mậu Thân của bà con vùng giải phóng. Được sống trong không khí khởi nghĩa, tận mắt chứng kiến sự chuẩn bị chu đáo của nhân dân, ông Hùng lúc này mừng vui khôn tả.
Trong ông và mọi người ai nấy đều hân hoan chờ đợi phút giây giải phóng huy hoàng. Đúng giao thừa, sau khi Bác Hồ đọc bài thơ chúc tết "Xuân 1968" thì cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra.
Giữa bom đạn tình yêu vẫn nở hoa
Ngày 28/2/1968, trước Tết Mậu Thân, Bộ Công an lại cử 34 đồng chí chi viện cho chiến trường miền Nam với tinh thần là tiếp quản miền Nam sau giải phóng (sau khi chiến dịch Mậu Thân giành thắng lợi và miền Nam giải phóng), bà Trịnh Thị Thu là 1 trong 2 nữ chiến sĩ cơ yếu đầu tiên vào chiến trường miền Nam. Bà được phân công về cùng đơn vị với ông Hùng và đảm nhận những công việc cơ yếu trong một giai đoạn tiền tuyến khắc nghiệt hơn.
Bà Thu nhớ lại: “Từ chiến dịch Mậu Thân và tiếp đến 3 - 4 tháng sau đó, để chuẩn bị cho tiếp quản vùng sau giải phóng, lãnh đạo Bộ cần liên lạc với địa phương rất nhiều: về thủ tục hộ khẩu hộ tịch, bí mật quân số, bí mật lương thực, tất cả mọi việc đều qua cơ yếu. "Khẩn trương, kịp thời" là khẩu hiệu của cán bộ cơ yếu chúng tôi lúc đó. Bộn bề công việc nhưng chúng tôi nhận rõ được niềm vui đoàn tụ niềm tin chiến thắng thống nhất đất nước đang đến gần".
Bà Thu kể lại, làm việc với nhau cả năm trời (từ tháng 2/1968) đến năm 1969 thì thực sự ông bà mới bắt đầu "bén duyên" với nhau. Nhưng rồi chiến tranh lúc này rất ác liệt, sau chiến dịch Mậu Thân là thời kì mà ông bà trải qua 2 cao trào trong công việc, vì vậy là những người trẻ tuổi lúc đó, ông bà nguyện phục vụ chiến đấu và chờ ngày chiến tranh kết thúc mới tổ chức đám cưới.
Hơn 4 năm yêu nhau, đầu năm 1973 khi phái đoàn của chúng ta do đồng chí Lê Đức Thọ sang
Vậy là đã gần 40 năm ông bà gắn bó bên nhau, có với nhau 3 mặt con. Hòa bình lập lại ông Hùng và bà Thu trở lại miền Bắc, tiếp tục hoạt động trong lực lượng Công an. Đến nay ông bà đều đã nghỉ hưu nhưng ký ức về những tháng ngày tuổi trẻ được sống và gắn bó với môi trường cơ yếu vẫn còn vang mãi trong tâm trí ông bà.
Đặc biệt, ông Trần Hùng, người được trực tiếp chứng kiến thời khắc lịch sử trong chiến dịch Mậu Thân, vẫn còn nhớ mãi những kỷ niệm gian nan nhưng rất đỗi tự hào