Sự nổi tiếng về vẻ đẹp của vịnh Hạ Long đã ở bình diện thế giới. Cho dù vậy, vẫn phải nhìn nhận một sự "nổi tiếng" khác mà không một ai mong muốn: Vùng mặt biển bị ô nhiễm dầu nghiêm trọng thuộc loại nhất nước. Cho dù cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới đang ở giai đoạn nước rút và vịnh Hạ Long đang ở top đầu, vẫn phải đặt vấn đề "giải cứu" khẩn cấp và gìn giữ môi trường vùng vịnh mãi mãi trong xanh.
Điểm mặt những…"sát thủ"
Theo báo cáo, vịnh Hạ Long bị ô nhiễm nguồn phát thải thường xuyên và không thường xuyên. Trong đó, nguồn phát thải thường xuyên gồm hệ thống tàu thuyền vận tải nhỏ là đối tượng đáng lo ngại nhất. Kết quả nghiên cứu cho biết, tại các khu vịnh kín, các tàu nhỏ chạy bằng xăng - dầu thải ra lượng dầu chiếm tới 70% tổng lượng dầu thải vào biển của cả vùng vịnh Hạ Long. 100% tàu có công suất dưới 220KW lưu thông trên vịnh hiện nay đều xả trực tiếp nước thải lẫn dầu chưa qua xử lý xuống vịnh.
Với nguồn phát thải không thường xuyên (cơ sở sản xuất công nghiệp, sinh hoạt người dân ven bờ) cũng đang là mối lo. Do tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và có cả việc tăng trưởng dân số, tất cả các vùng ven bờ biển thuộc TP Hạ Long đã từ lâu không còn được hiểu theo khái niệm là hành lang bảo vệ bờ biển nữa. Tất cả đã trở thành công xưởng, khu đô thị, khu chức năng, cơ sở sản xuất công nghiệp hoặc nhà ở của người dân. Đại đa số những "đối tượng" này đều không có hoặc xây dựng hệ thống xử lý chất thải không đạt chuẩn. Trong điều kiện như vậy thì dù ở vị trí nào, chất thải độc hại, dầu thải, dầu vãi đều có điểm đến cuối cùng: trực chỉ ra vịnh Hạ Long.
Theo một báo cáo chuyên đề của Bộ Tài nguyên - Môi trường, năm 2004, khi tốc độ công nghiệp và đô thị chưa ở mức bức bách thì mỗi năm có đến 844 tấn dầu mỡ, khoáng thải xuống vịnh. Ngoài ra, nếu kể đến các hoạt động, sự cố khác như tai nạn hàng hải, rò rỉ dầu, rơi vãi do bơm rót trong kinh doanh dầu trên biển, chắc chắn sẽ "đóng góp" thêm tỷ lệ ô nhiễm không dưới mức 4-5%/năm.
Cứu vịnh Hạ Long bằng giải pháp nào?
Phải nói rằng, Nhà nước có đủ các chế tài, quy định, công cụ pháp lý để gìn giữ vịnh Hạ Long nói riêng và môi trường biển nói chung. Đáng chú ý nhất là Luật Môi trường có hiệu lực từ năm 2003. Việt
Một cán bộ của Công ty CP DVKT Hàng hải dẫn chứng: Điển hình cho sự thiếu kiểm soát nguồn gây ô nhiễm dầu là việc cấp phép cho phương tiện vận tải thủy có tổng công suất động lực diezen nhỏ hơn 220KW. Những phương tiện này chiếm đại đa số trên vịnh hiện nay, song theo tiêu chuẩn ngành (Quy phạm ngăn ngừa ô nhiễm do phương tiện thủy nội địa số 22TCN 246-06 do Bộ GTVT ban hành ngày 28/12/2006) thì họ không buộc phải lắp thiết bị xử lý nước thải lẫn dầu, mà chỉ cần lắp két chứa dầu thải và két chứa nước lẫn dầu (quy định này dựa trên Công ước quốc tế MARPOL 73/78).
Trong khi đó Công ước MARPOL73/78 có quy định rất rõ ràng về kiểm soát ô nhiễm dầu như sau: Tại các cảng và bến neo đậu tàu thuyền phải có các cơ sở tiếp nhận, xử lý dầu thải và nước lẫn dầu của các tàu này được định kỳ bơm lên mà không được xả trực tiếp xuống sông - biển. Trên thực tế, tại tất cả các bến, cảng sông - biển và các khu neo đậu tàu thuyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam chưa nơi nào có cơ sở tiếp nhận và xử lý chất thải này, vì vậy, tất cả các tàu loại này chỉ trang bị lấy lệ để được cấp phép hoạt động, sau đó đều xả trực tiếp các chất thải lẫn dầu xuống sông, biển.
Các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ninh cần lập lại trật tự, kỷ cương trong kiểm soát môi trường. Nhất thiết phải ban hành quy định bắt buộc, chỉ cấp phép xả thải ra vịnh Hạ Long đối với đơn vị, tổ chức xử lý chất thải, nước thải và dầu thải ra môi trường vịnh Hạ Long đạt tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại A theo TCVN 5945:2005. Có như vậy, vịnh Hạ Long không chỉ là kỳ quan thiên nhiên đẹp mà còn là sạch nhất thế giới