Theo đó, các mức giá được xây dựng trên cơ sở khung giá cước vận chuyển chia theo giới hạn 5 cự ly đường bay nội địa và mức giá cao nhất tăng 20% so với mức giá hiện tại (hạng phổ thông) và không quá 5% đối với hạng thương gia.
Đối với đường bay trục có nhu cầu đi lại cao giữa TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, Đà Nẵng, Vietnam Airlines áp dụng mức tăng giá tối đa 15%; trên đường bay đến các địa phương có cự ly ngắn có thể linh hoạt sử dụng các phương tiện giao thông khác áp dụng mức tăng tối đa 20%. Trên cơ sở cân đối hiệu quả kinh doanh và các mục tiêu bình ổn kinh tế vĩ mô của Chính phủ cũng như đảm bảo tối đa quyền lợi người tiêu dùng, trong đợt điều chỉnh giá này, Vietnam Airlines điều chỉnh giá tăng trong khoảng từ 15 – 20% trong phạm vi giá trần cho phép tùy từng đường bay.
Như vậy, Vietnam Airlines có tới 10 mức giá khác nhau trong dải giá áp dụng trên các đường bay nội địa. Ví dụ, trên đường bay Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh, chặng bay có tần suất khai thác cao nhất, mức giá cao nhất hạng phổ thông áp dụng là 2.560.000 đồng nhưng hành khách có thể tìm mua được nhiều loại vé khác nhau với mức giá thấp nhất là 1.050.000 đồng (bằng 41% so với mức giá cao nhất) tùy thuộc vào thời điểm mua vé và thực hiện hành trình.
Việc áp dụng khung giá trần mới cho phép Vietnam Airlines từng bước xây dựng giá vé nội địa trên cơ sở cung cầu của thị trường (giảm giá vé khi nhu cầu đi lại thấp và ngược lại), đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại ngày càng đa dạng của nhiều đối tượng khách hàng.
Bảng giá cước vận chuyển nội địa mới sẽ được niêm yết tại các phòng vé và đại lý chính thức của Vietnam Airlines trên toàn quốc