Truy tặng Trung tướng Phạm Kiệt, nguyên Tư lệnh Công an vũ trang, nguyên thứ trưởng bộ công an danh hiệu Anh hùng LLVTND:

Vị tướng tài ba và một nhân cách lớn

Có lẽ, trong lực lượng vũ trang, ít có vị tướng nào đặc biệt như Trung tướng Phạm Kiệt. Nói là đặc biệt bởi ông đã cống hiến đến tận cùng khả năng cho cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cho lực lượng vũ trang. Trong đó, một nửa đời đầu là tận trung cho Quân đội, nửa đời còn lại tận tụy, hết lòng với lực lượng Công an.
>> Bàn giao nhà lưu niệm Trung tướng Phạm Kiệt

Ngày 25/7/2012, tỉnh Quảng Ngãi và gia đình tổ chức lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân mà Đảng, Nhà nước truy tặng cho Trung tướng Phạm Kiệt, người con ưu tú của núi Ấn, sông Tra. Niềm vinh dự lớn lao này chứng tỏ cuộc đời, tên tuổi và những đóng góp to lớn của ông đã và sẽ sống mãi trong lòng quê hương, đất nước.

Trưởng thành từ đội du kích Ba Tơ

Trung tướng Phạm Kiệt tên thật là Phạm Quang Khanh, sinh ngày 10/1/1910 tại làng An Phú, nay là thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là con thứ 10 trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cụ thân sinh ra ông là Phạm Quang Đình, một nông dân yêu nước và tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp từ rất sớm.

Đặc biệt mẹ ông - bà Võ Thị Vàng là một người phụ nữ trung hậu, đảm đang, gánh vác hết mọi việc nhà để tạo điều kiện cho chồng, con tham gia cách mạng. Bản thân bà cũng từng là thành viên của phong trào văn thân. Khi đã ngoài 70 tuổi, sức yếu nhưng bà vẫn lặn lội vượt gần 100km để lên tận căn cứ Ba Tơ thăm, nuôi những đứa con của mình.

Các anh trai và em gái của ông như ông Phạm Ngọc Trân, bà Phạm Thị Trinh cũng đều tham gia cách mạng từ rất sớm và sau này giữ nhiều trọng trách quan trọng như Trưởng ty Công an đầu tiên của Quảng Ngãi và phụ trách Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi.

Sơn Tịnh không chỉ nức tiếng với vẻ đẹp hữu tình của núi Ấn - sông Trà mà còn nổi tiếng là một trong những miền quê nghèo nhất nước. Dường như chính sự nghèo khó cùng cực và với truyền thống gia đình đã tạo nên tính cách gai góc, kiên cường, thẳng thắn, chính trực của những người con ưu tú như Phạm Kiệt. 15 tuổi, người trai Phạm Kiệt đã tham gia phong trào văn thân chống Pháp và hoạt động yêu nước.

Năm 1929, ông đã cùng các đồng chí thành lập tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội tại huyện nhà và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương phụ trách công hội đỏ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tướng Phạm Kiệt kiểm tra cao xạ pháo Điện Biên Phủ năm 1954.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tướng Phạm Kiệt kiểm tra cao xạ pháo Điện Biên Phủ năm 1954.

Tháng 6/1931, ông bị mật thám Pháp bắt giam tại nhà lao Quảng Ngãi rồi đưa lên nhà lao Lao Bảo. Do xác định ông là nhà cách mạng đầu sỏ, nguy hiểm nên chỉ vài ngày sau, lập tức chúng chuyển ông về nhà tù ở Buôn Ma Thuột, nơi giam giữ những nhà cách mạng “cứng đầu” như Nguyễn Chí Thanh, Trương Quang Giao. Trong những ngày bị giam cầm tại đây, ông đã cùng các nhà hoạt động cách mạng khác tổ chức chi bộ nhà tù tập huấn bí mật về lý luận và phương pháp vận động quần chúng cho các đảng viên mới. Đặc biệt, ông là một trong những người quyết tâm và tích cực tổ chức vượt ngục cho một số nhà cách mạng, trong đó có Nguyễn Chí Thanh.

Cuối năm 1943, ông và một số tù chính trị khác được đưa về quản thúc tại Căn An Trí Ba Tơ.

Năm 1944, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi được tái thành lập và Phạm Kiệt giữ chức vụ Tỉnh ủy viên.

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, lúc này chỉ thị từ Trung ương “Nhật đảo chính Pháp-hành động của chúng ta” tuy chưa vào đến nơi nhưng bằng sự nhạy bén của mình, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi đã quyết định cướp đồn Ba Tơ, giành chính quyền về tay nhân dân Ba Tơ. Nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy khởi nghĩa Ba Tơ đã được Tỉnh ủy lâm thời giao cho Phạm Kiệt.

Cuộc giằng co, đấu trí giữa lực lượng cách mạng và quân lính đồn Ba Tơ diễn ra căng thẳng từ chập tối ngày 10/3/1945 cho đến rạng sáng ngày 11/3, quần chúng cách mạng đã chiếm đồn Ba Tơ, bắt tất cả sỹ quan và quân lính trong đồn, giải tán chính quyền phản động, giành thắng lợi hoàn toàn mà không hề đổ máu, hy sinh một ai.

Ngày 13/3/1945 đội du kích Ba Tơ chính thức thành lập và Phạm Kiệt được Tỉnh ủy giao làm chỉ huy trưởng. Sau Cách mạng Tháng 8, quân du kích Ba Tơ lan tỏa đi khắp liên khu V và Nam Bộ. Những người du kích Ba Tơ năm xưa sau đó đã trở thành lực lượng nòng cốt và tiền thân của QĐND Việt Nam.

Người góp công xây dựng lực lượng QĐND và CAND

Trong vòng 30 năm (từ 1945 đến 1975) là quãng thời gian Phạm Kiệt phải “chia đều” để phục vụ cả trong Quân đội lẫn Công an. Dù ở cương vị nào, ông cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Chỉ tính riêng 15 năm công tác trong Quân đội, đồng chí Phạm Kiệt được giao đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng: Chỉ huy trưởng Ủy ban quân chính Nam phần Trung Bộ (1945); Tổng đội trưởng quân sự trường Lục quân Quảng Ngãi; Phó hiệu trưởng trường Lục quân Trần Quốc Tuấn (1952); đặc phái viên của Tổng Tư lệnh và phụ trách công tác bảo vệ mặt trận tại chiến dịch Điện Biên Phủ (1954); Cục trưởng Cục Bảo vệ (1957), Bí thư Đảng ủy Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam (1957-1960).

Trong đó, có nhiều chiến dịch đã lưu lại đậm nét dấu ấn cá nhân của ông. Đó là chiến dịch Mađrắc, 101 ngày đêm bảo vệ Nha Trang thắng lợi làm cho quân Pháp ở phần Nam Trung Bộ nao núng, khiếp đảm. Sau này, tại chiến dịch Điện Biên Phủ, Phạm Kiệt cũng chính là người duy nhất mạnh dạn đề xuất với Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp thay đổi cách đánh “nhanh” sang đánh “chắc”.

Năm 1960, đồng chí Phạm Kiệt được Đảng và Bác Hồ điều sang làm Thứ trưởng Bộ Công an: “Quân đội cũng rất cần chú. Nhưng nay Bác và các đồng chí lãnh đạo muốn điều chú sang Bộ Công an vì bên đó đang thiếu cán bộ rành về chỉ huy quân sự”.

Đầu năm 1961, Đảng và Bác Hồ lại giao thêm cho ông một nhiệm vụ vừa làm Thứ trưởng Bộ Công an, vừa làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an nhân dân vũ trang (CANDVT).

Dẫu thời gian ông gắn bó với lực lượng Công an cũng kéo dài 15 năm (từ 1960-1975) như thời gian ông phục vụ trực tiếp trong Quân đội song đây lại là khoảng thời gian ông đảm nhận nhiều trọng trách lớn, vinh dự và tự hào nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Bởi lẽ, CANDVT hay còn gọi là “Bộ đội quân hàm xanh” thời ấy được giao cùng một lúc nhiều nhiệm vụ nặng nề khác nhau, từ bảo vệ biên cương - biển đảo của Tổ quốc; chống phá kế hoạch nhảy dù, xâm nhập biên giới biển đảo của bọn biệt kích Mỹ -ngụy cho đến bảo vệ Bác và lãnh đạo Nhà nước; bảo vệ các cơ quan Trung ương trọng yếu…

Với một khối lượng công việc “khổng lồ” như vậy nhưng với bản chất thẳng thắn, trung thực, luôn hết lòng yêu thương cán bộ chiến sỹ; đặt lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết, Trung tướng Phạm Kiệt đã hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, trở thành vị thủ lĩnh, người anh cả khả kính của lực lượng CANDVT ngày đó.

Đầu năm 1973, Trung tướng Phạm Kiệt được vinh dự tháp tùng lãnh tụ Phidel Castro và Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thăm vùng giải phóng Quảng Trị. Sau chuyến đi dài ngày này, những bệnh tật do gần 15 năm bị tù đày trước cách mạng bắt đầu quay lại quấy phá khiến sức khỏe của ông ngày càng giảm sút. Đảng và Nhà nước đã đưa ông sang CHDC Đức để chữa trị.

Về nước, ông tiếp tục được Giáo sư Tôn Thất Tùng và các bác sỹ nổi tiếng khác trực tiếp điều trị nhưng do tuổi cao, sức khỏe có hạn nên ông đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 23/1/1975. Ghi nhận những đóng góp đặc biệt của Phạm Kiệt, vào ngày ông ra đi, Đảng và Nhà nước đã truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh - Huân chương cao quý tặng cho cá nhân đầu tiên trên cả nước.

Vị tướng được Bác Hồ tặng ba “báu vật”

Một trong những niềm vinh dự, tự hào lớn nhất trong đời của Trung tướng Phạm Kiệt là luôn được Bác Hồ dành cho một cảm tình và niềm tin đặc biệt.

Lần đầu tiên Phạm Kiệt được gặp Bác Hồ, đó là vào năm 1950, khi ông được điều ra Việt Bắc để chuẩn bị đi Trung Quốc bồi dưỡng thêm kiến thức về quân sự. Khi vừa bước vào lán nơi Bác làm việc, Bác đứng dậy và vỗ tay: Chú Đê-Tơ (bí danh của Phạm Kiệt tại Quân khu V) vào đây! Sau khi hỏi thăm sức khỏe, gia đình, Bác nói: “Nghe các đồng chí nói chú xin ở lại chiến đấu rồi đi học sau. Bác cũng nghĩ nên như thế”. Sau đó Bác trìu mến và dí dỏm: “Chú mà đi học về thì còn giặc đâu mà đánh!”.

Một vinh dự khác đến với Phạm Kiệt là sau chiến dịch Biên Giới, một đồng chí chỉ huy tặng Bác khẩu Cacbin chiến lợi phẩm, Bác đã gọi ông lên và trao lại khẩu Cacbin 585440 này rồi nói: “Chú là người xông pha trận mạc, cần thứ này hơn Bác, Bác tặng chú đấy…”. Khi gia đình, vợ và hai con đồng chí Phạm Kiệt ra Việt Bắc năm 1954, Bác Hồ lại tặng bà Trần Thị Ngộ, vợ ông một khẩu súng lục hiệu Mode 6,35 ly số 707271 và dặn: “Cô dùng nó để bảo vệ các cháu cho chú yên tâm nơi chiến trường nhé”.

Rồi vào tháng 5/1954, Bác Hồ gọi tướng Phạm Kiệt lên và tặng ông một chiếc radio. Bác vui vẻ nói: “Đây là chiếc đài Tướng De Castries dùng suốt chiến dịch Điện Biên Phủ. Chú Vương Thừa Vũ tặng Bác, nay Bác tặng lại cho chú vì đã có công đặc biệt xuất sắc góp phần thắng lợi Điện Biên Phủ”.

Cả ba hiện vật quý này đều được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam . Đặc biệt, trong thời gian Phạm Kiệt phục vụ ở Quân đội hay khi đã chuyển sang Công an, đi công tác ở đâu Bác cũng gọi Phạm Kiệt theo cùng.

Nhớ về vị thủ trưởng của mình, Thiếu tướng Nguyễn Tấn, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, người từng được Trung tướng Phạm Kiệt tin cậy, giữ làm Bí thư riêng từ năm 1964 đến năm 1975 tâm sự: Khi anh chuyển bệnh nặng, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã đến thăm anh. Trên giường bệnh, anh hay nói đến điều day dứt nhất của lòng mình là “Tôi được Đảng, Bác giao phụ trách lực lượng CANDVT nhưng gần 15 năm nay tôi chưa lo được gì. Mong các anh giúp đỡ để lo cho lực lượng vũ trang về tổ chức, đỡ khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ…”.

Tấm lòng và nhân cách ấy sẽ còn sống mãi với quê hương Quảng Ngãi, với lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân

Thái Huyền

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.